duc-huynh-phu-so

Dưới thời Nhật chiếm đóng (1940-1945), tại các tỉnh miền Tây, một giáo phái đang thành hình và lực lượng ngày một mạnh. Từ sau năm 1947, giáo phái này thường được biết như Phật Giáo Hòa Hảo, hay ngắn gọn hơn, Hòa Hảo.

Hòa Hảo thực ra chỉ là tên ngôi làng mà người khai đạo,  Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) đã mở mắt chào đời. Đại cương, Hòa Hảo dựa trên một số nguyên tắc và phương pháp tu luyện đại chúng của Phật giáo tại gia. Tín đồ được dạy bảo chẳng nên theo đuổi những tài lợi thế tục, sống đạm bạc, đức hạnh. Giáo phái này liên hệ đến môn phái Đức Công Vương Phật, một trong năm chi nhánh của Bửu Sơn Kỳ Hương, dịch nghĩa tiếng Việt là “Hương lạ từ núi quí”—một thứ hội kín của người Hoa. Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của Sấm Trạng Trình. Kinh điển và đường lối của Hòa Hảo cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng của nhóm trí thức tân học nuôi lý tưởng giải phóng dân tộc khỏi sự chiếm đóng của Pháp, và thực hiện cách mạng xã hội. Nói cách khác, Hòa Hảo là một giáo phái không thuần túy tôn giáo mà bị chính trị hóa. Giáo phái này nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh giới nông dân, không có điều kiện lễ bái ở các chùa, và đặt nặng vào đức tính cổ truyền hiếu (đối với cha mẹ, tổ tiên) và nghĩa (với thân hữu và đồng bào). Tiếp tục đọc