• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Thằng Bờm (Phần cuối)

Truyện của Nghiêm Lương Thành

Bờm, nhanh như một con chim chả, bất thần đoạt lấy thanh mã tấu của một kẻ trong toán, nhảy liền hai bước đến chỗ cái cột rơm, đứng chắn trước mặt Phú ông, khom người, hướng mũi mã tấu về phía tay thủ lĩnh:

– Nhà chúng bay là thế nào chẳng qua tao đã biết hết tiệt cả rồi. Thế hóa nên tao mới sinh ra chán ở với chúng bay. Tạnh ngay những cái nhời tử tế lừa đảo ấy đi nhá! Nói cho mà biết, khi Phú ông cầm giáo xách mộc đi đánh giặc Tàu thì chúng bay đang phiêu lưu ở tít tận dững đéo đâu? Muốn đưa Phú ông mấy lại dững cái bao lúa này đi thì phải đâm chết được tao đã! Tiếp tục đọc

Advertisements

Thằng Bờm (Phần 2)

Truyện của Nghiêm Lương Thành

Thằng Bờm (Phần 1)

Một buổi sớm, nhân lúc việc đồng vừa vãn, ngồi trong nhà nhìn ra sân thấy rặng cúc đại đóa đua nhau nở rộ; Trên những tán lá rặng mít mé bếp, chim chóc chuyền nhảy rào rào, chít chiu vui vẻ, trong người thấy mười phần thư thái; Sực nhớ có ấm trà ngon, Phú ông bèn sai người làm gọi Bờm đến cùng uống.

Cầm cái chén Phú ông đưa cho, Bờm dốc ngược làm một ực, rồi nhảy cẫng lên, xuýt xoa nhăn mặt. Phú ông nhìn Bờm, cười rộng ngoác:

– Nghe tao bảo: tội chó gì mà phải ngủ đường ngủ chợ, nắng mưa muỗi rệp nó hành cho; Lại bữa no bữa đói, chẳng ra làm sao; Về ở cho nhà tao, tao không bắt làm nhiều đâu, tao lo cho mày lúc nào cũng no như khi còn ở lính.

– Ông cứ đùa nhả – Cái cổ Bờm rụt lại, hai tay xoa xoa vào nhau, cười nhăn nhở – Có đời thuở nhà ai làm ít mà lại được ăn no bao giờ? Nhà cháu mà làm người giàu thì nhất định đếch chơi như thế.

Phú ông ngây mặt:

– Ơ hay… tao nói thật đấy!

– Thật cái phải gió đùng lăn!

– Tiên sư cái thằng… mày thấy ông thất tín bao giờ chưa? Tiếp tục đọc

Thằng Bờm (Phần 1)

Truyện của Nghiêm Lương Thành

– Thằng Bờm là ai?

– Thằng Bờm là thằng bờm!

Thời ông Lý Bơm, sổ đinh của làng ghi là Lý An Bờm; Sang thời ông Lý Nhõn ghi là Trần Bờm, rồi sau đó, không hiểu thế nào, lại chữa ra Lê văn Bờm; Đến thời ông Lý Cai, năm chạy lụt, sổ đinh không biết đi đằng nào, sau lập lại không biết ghi là gì; Hỏi dân làng, người nào mặt cũng thộn ra, bèn cứ đề phứa là Nguyễn Quốc Bờm cho nó đẹp đẽ, phân miêng sổ sách… Rốt cuộc, chính Bờm vẫn chẳng biết họ của mình là gì.

Bình thường, nếu là người đọc sách, dạy học như ông đồ Tú cuối làng, đều được cả làng gọi là ông Đồ Nguyễn hoặc bạn bè đồng môn trước đây gọi là Nguyễn tiên sinh. Còn người thường, không có gì nổi bật, thì chí ít cũng được gọi là anh cu, bố hĩm. Nó chẳng có gì na ná như vậy ngoài cái đầu bù xù khét nắng nên dân làng, vốn giản tiện, gọi béng là Bờm. Bờm chỉ khoái tắm sông thả diều, đốt rác ngoài đồng, ngủ trên bãi cỏ, nô với trẻ trâu… thấy cái thứ gọi là họ ấy cũng không có lợi hại gì, nên cũng chẳng để ý. Sau này, có ai trêu chọc mà hỏi, Bờm bảo họ của nó là Thằng. Thỉnh thoảng, đi qua lớp học của ông Đồ Nguyễn, ghé mắt nhòm vào thấy trên mặt giấy rặt có một thứ loằng ngoằng, dọc ngang chéo giật, Bờm tự thấy mừng cho mình vì chả có ai bắt nó đến đấy ngồi suốt ngày, còng cả lưng, rồi vẽ ra giấy những thứ chết tiệt như vết chân gà choai bới đất, đọc lên nghe lạ hoắc lạ huơ đến nẫu cả ruột.

Nghèo thì nghèo, Bờm cũng hữu sản đấy. Tài sản của Bờm là một cái quạt mo. Với người bình thường thì đồng tiền liền khúc ruột; Với Bờm, cái quạt mo là vật bất ly thân. Xem diễn chèo ở sân đình làng, thấy vua quan ông nào cũng cầm một cái quạt trên tay. Thế thì Bờm đâu có ý chơi trội. Tiếp tục đọc

Hát nói, thời điểm hình thành và quá trình phát triển

NGUYỄN ĐỨC MẬU

Hát nói, thời điểm hình thành và quá trình phát triển

Hát nói là thể loại thơ ngắn duy nhất mà lịch sử văn học Việt Nam sáng tạo được. Các thể lục bát, song thất lục bát chưa thành thể loại, nhưng nhờ các thể đó đã tạo nên truyện nôm và ngâm khúc. Bộ ba thể loại: ngâm khúc( đỉnh cao làCung oán ngâm Chinh phụ ngâm), truyện nôm( đỉnh cao là Truyện Kiều), hát nói (đỉnh cao là nói Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,..) là những công tích lịch sử văn học, đã tạo nên những điển phạm cho văn học Việt Nam trung đại. Ba thể loại đó hình thành và phát triển thành đỉnh cao vào giai đoạn thế kỷ XVIII- XIX, gắn liền với quá trình con người cá nhân hướng đến đấu tranh cho hạnh phúc, tự do.

1. Các điều kiện xuất hiện hát nói

Các khái niệm hát ca trù, hát ả đào, hát thẻ, hát cửa đình, hát nhà trò, hát cửa quyền, hát nhà tơ, hát ca công,.. đều bao gồm trong nó rất nhiều điệu hát, trong đó có hát nói. Hát nói là tên gọi phổ biến nhất, ngoài ra nhiều người còn gọi nó bằng các tên như nói nôm, điệu xướng ca, bài ca quốc âm, hát quốc âm. Hát nói chỉ là một trong rất nhiều điệu của ca trù và trong ca trù chỉ hát nói mới được sáng tác và nghiên cứu với tư cách là một thể loại văn học. Có thể do được sáng tác nhiều nhất và là một điệu hát quan trọng, một điệu hát chính, nên trong các hợp tuyển, tuyển tập và ở nhiều công trình nghiên cứu, hát nói nhiều khi được thay thế bằng các khái niệm: ca trù, ả đào, cửa đình. Tiếp tục đọc

NGƯỜI LÍNH HẦU CỦA VUA HÙNG

Truyện ngắn của Nghiêm Lương Thành

Đời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân ngàn ngạt kéo sang xâm chiếm Văn Lang. Từ kinh đô Phong Châu, vua Hùng liên tục phái đi nhiều tướng giỏi của triều đình ra miền biên ải cự giặc. Nhưng thế giặc quá mạnh, quân Văn Lang thua hết trận này đến trận khác. Thế nước thật chẳng khác gì “trứng treo đầu đẳng”. Vua Hùng mất ăn mất ngủ, lo lắng buồn phiền. Ngài truyền các lạc hầu lạc tướng vào điện bàn mưu tính kế chống giặc.

Trái hẳn với không khí của những lễ tiết ngợi ca non nước thái bình, tung hô phúc ấm và sự anh minh của Văn Lang Vương mấy tháng trước là một sự im lặng trống hoang, tỏa ra từ những khuôn mặt nhợt nhạt, xác xao thảng thốt của các Lạc hầu Lạc tướng. Lặng ngắt. Không vị nào đưa ra được kế sách. Cực chẳng đã, một lạc hầu đành lên tiếng: Tiếp tục đọc

MÂY BAY TRÊN ĐẦU VÀ NẮNG TRÊN VAI

Truyện ngắn của Nghiêm Lương Thành

 

Ảnh internet

Đã sáu rưỡi tối. Triệu khoá cửa phòng làm việc, sách cặp ra về. Bước xuống sảnh lớn của cơ quan, đã thấy một chậu đào to tướng, có dễ phải cao đến ba mét. Khắp các cành to cành nhỏ, nhằng nhịt những sợi trang kim xanh đỏ và các thứ quả, lẵng, gói nhỏ, đèn lồng, chuông, khánh, nơ, đăng ten … treo nhũng nhẵng la liệt. Đúng là một thứ văn hoá lẩu mắm – Triệu thầm nghĩ – Nói, thì lại bảo là hay xét nét. Thôi, miễn đừng có ai cho vanilla vào món cháo lòng là được.

Đánh vèo một cái, thế là lại hết một năm. Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là sang năm mới. Thời gian gớm thật – Triệu nghĩ – vừa mới đấy mà mình đã ngoài năm mươi rồi. Con cái thì vẫn còn nhỏ dại, nhà cửa trông chẳng khác gì cái hố rác. Tiếp tục đọc

Người quen làm to

Một người họ hàng đến gặp tôi dịp tất niên năm ngoái. “Chú có quan hệ rộng, chú xin việc cho cháu nó với, hết bao tiền cũng được”.

Anh xoay mãi chén nước đã nguội: “Chạy hết 70 triệu mà chờ sáu tháng nay cháu nó vẫn chưa được vào làm”. Anh chị đã xin cho cậu con trai vào làm nhân viên ở chi nhánh tỉnh một tổng công ty nhà nước. Nhưng rồi nhận được lý do họ “phải sắp xếp cho con cháu lãnh đạo tỉnh” trước nên mình phải đợi. Nếu được vào phải thêm tiền nữa, và cũng chỉ được ký hợp đồng thời vụ.

Tôi bảo, đúng là em có quen biết, nhưng em không có năng lực xin việc bằng tiền. “Thử xem cháu làm được việc gì tốt thì em kết nối với nơi cần kỹ năng của cháu” – tôi giảng giải một hồi để mong anh thay đổi quan điểm “xin việc phải bằng tiền”, mà là bằng kỹ năng, thái độ lao động. Nhưng nỗ lực của tôi đổ bể. Với anh cũng như nhiều người có mặt ở cuộc gặp tất niên hôm đó, xin việc phải mất tiền là một “chân lý”. Họ không tin có một cách xin việc khác ở tỉnh này. Cũng vì thế, “chân lý” này ngấm vào đầu đứa cháu tuổi còn trẻ, sức còn sung của tôi đang ngồi đợi việc kia. Tiếp tục đọc