• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Ý nghĩa của chữ “Văn” trong từ “Văn Miếu”- Văn Miếu thờ ai?

le-phu-bia-tai-van-mieu-tinh-vinh-phuc-03

Nguyễn Văn Nghệ

Đài RFA (Á châu tự do) có bài viết “Văn miếu xưa và nay”đã nhận định về việc một số địa phương ở Việt Nam cho xây dựng Văn miếu: “Vừa qua nhiều địa phương tại Việt Nam rộ lên việc xây dựng công trình phỏng theo Văn miếu ở Hà Nội, tuy nhiên sau khi hoàn thành các địa phương tỏ ra lúng túng không biết đưa vị nào vào thờ chính tại Văn miếu địa phương của họ”. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã trả lời phóng viên về việc này: “Ở tỉnh Vĩnh Phúc người ta đầu tư xây dựng một cái Văn miếu với kinh phí 271 tỷ đồng chẳng hạn, nhưng bây giờ xây xong rồi vẫn bỏ không ở đấy, vì không biết phải đưa những người nào để vào thờ. Nếu đưa Khổng tử vào thì các nhà nghiên cứu, các học giả địa phương người ta cũng phản đối rồi. Hay tỉnh Hà Tĩnh xây đến 80 tỷ một cái Văn miếu thì đến bây giờ vẫn bỏ không. Hay là Văn miếu Sơn Tây nằm trên địa phận xã Đường Lâm cũng xây xong 4 đến 5 năm nay rồi nhưng chưa khánh thành và đưa vào hệ thống thờ cúng được, vì người ta không có lý do thuyết phục để đưa Khổng tử và đó để thờ” (1)

Ý nghĩa của chữ  “Văn” trong từ “Văn miếu”

Năm Khai Nguyên thứ 27 vua Đường Huyền Tông có chiếu truy thụy Khổng tử là Văn Tuyên vương, nên những nơi thờ Khổng tử gọi là Văn Tuyên vương miếu. Đời nhà Minh, niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) rút gọn cụm từ “Văn Tuyên vương miếu” thành “Văn miếu”. Như vậy hai chữ Văn miếu dùng để gọi nơi thờ tự Khổng tử ở Trung Hoa và nước ta bắt đầu sử dụng từ thế kỷ XV trở về sau.

Hai chữ Văn miếu được dịch sang tiếng Pháp là Temple de la littérature, tiếng Anh là Literature Temple đều có nghĩa là “miếu Văn chương”. Riêng học giả Madrolle đã dịch hai chữ Văn miếu sang tiếng Pháp là Temple de la culture littéraire (= Miếu Văn hóa có tính văn chương). Nhà báo Hữu Ngọc nhận xét cách dịch của Madrolle: “Dịch  như vậy có thể sát hơn Temple de la literature( Miếu Văn chương)” (2) Tiếp tục đọc

Nho giáo và pháp luật

.
Phạm Duy Nghĩa
.
Nho giáo và pháp luật

Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống”, tưởng như đã hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lý Tây phương, liệu có còn giá trị đáng kể gì trong cuộc kiến thiết hệ thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước đầu nghiên cứu vai trò và giới hạn của pháp luật trong những phương cách tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật, cũng như đưa ra một vài thiển ý góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày càng gần hơn với cuộc đời. Tiếp tục đọc

Mối liên hệ giữa đại văn hào Lev Tolstoy và Đạo Phật

Thời gian gần đây, có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa Đạo Phật và nhà văn Nga Lev Tolstoy. Vì họ phát hiện trong sách truyện của ông có nhiều quan điểm rất tương đồng với giáo lý nhà Phật..

Thích Nguyên Tạng
.

Trong bài viết này, dù chưa đầy đủ lắm, nhưng hy vọng nó sẽ cung cấp cho độc giả một ít khám phá mới về mối liên hệ ấy.

Lev Tolstoy (1828-1910) là một bá tước, nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng người Nga nổi tiếng và được kính trọng trên khắp thế giới qua tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình (War and Peace), và học thuyết mang chính tên ông – Học thuyết Tolstoy. Ông ra đời vào ngày 28 tháng 8 năm 1828 trong một gia đình quý tộc lâu đời tại điền trang Yasnaya Polyana, tỉnh Tula, Liên Xô (cũ).

Ông mồ côi cha lẫn mẹ từ lúc lên bảy. Ở tuổi 16, ông bắt đầu học ngành luật và ngôn ngữ phương Đông tại Đại học Kazan. Năm 1847, bất mãn với lối giáo dục bằng cấp tại nơi này, ông đã bỏ ngang việc học và trở lại quê nhà để quản lý trang trại gia đình với 300 nông nô và sống một cuộc đời xa hoa quý tộc. Tiếp tục đọc

66 câu Phật học làm chấn động Thiền ngữ thế giới

Đọc được gì là tùy mỗi người…Nhưng xin hãy đọc thật chậm, nghĩ thật kỹ và nhớ thật lâu. Cuối cùng là làm theo được càng nhiều càng tốt…

1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nỗi.

3. Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình. Tiếp tục đọc

Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật

phat-va-kim-cuong-thu-bo-ta

Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật ở Lộc Uyển (người cầm gươm bên phải đức Phật là Kim Cương Thủ Bồ tát), thế kỷ 12 Gandhara – Pakistan (Bảo tàng Metropolitan, New York)

.

Trịnh Bách

Sau khi đạt Chính quả ở Gaya, Bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật Thích Ca là bài thuyết giảng của ngài cho 5 vị Tôn giả, tức là nhóm ông Kaundinya (Kiều Trần Như) ở Sarnath (Lộc Uyển). Dù ngắn gọn, nhưng bài thuyết pháp này được xem là một trong những bài giáo lý quan trọng nhất của ngài. Các học thuyết căn bản của đạo Phật, như Ngũ giới, Bát chính đạo, Lục hạnh Ba la mật, Tứ diệu đế, Duyên khởi; cũng như các kinh Chuyển Pháp Luân (Dhamma-Chakka-Pavattan Sutta), Vô ngã (anattā-lakkhana- suttra), v.v đều có xuất xứ từ bài thuyết pháp ngắn gọn này. Tiếp tục đọc

Một số hình ảnh về Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng

Ảnh: N.L. Thành

img_89321.jpg

Nhìn từ sông Mã lên

Trúc lâm Thiền viện Hàm Rồng (5)

Nhìn xuống dòng sông Mã Tiếp tục đọc

Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc Việt Nam và vai trò của họ tại Cộng hòa Miền Nam, 1954-1959

di-dan-1954.jpg

Peter Hansen – Hiếu Tân dịch

Gia Kiệm, một thị trấn gần tám mươi nghìn dân, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng năm mươi ki lô mét trên đường đi Đà Lạt. Nó đáng chú ý về sự giàu có và quy củ, nhưng nét nổi bật nhất của nó là có rất nhiều nhà thờ Công giáo rải rác dọc theo đường cái, cách nhau chỉ khoảng vài trăm mét. Gia Kiệm không phải là một cộng đồng cổ. Thật ra, trước năm 1954, nó chỉ là một ngôi làng. Nhưng vào năm đó, Đức Cha Thaddeus Lê Hữu Từ đã chọn Gia Kiệm làm nơi tái định cư cho hàng ngàn dân Công giáo từ Giáo khu Phát Diệm ở miền bắc chạy vào nam. Đám con chiên của Lê Hữu Từ chẳng bao lâu đã có thêm những giáo dân từ những giáo khu khác của miền bắc, như Bùi Chu và Thanh Hóa hội nhập vào. Tên của những xứ đạo mới đến thiết lập ở Gia Kiệm gợi nhớ đến những gốc gác miền Bắc của họ: Phát Hội, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng vân vân.[1] Tiếp tục đọc