• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Ghi chép về những lần tượng Phật chảy nước mắt gắn liền đại nạn trong lịch sử

Tự cổ chí kim, nhân loại đã nhiều lần chứng kiến tượng Phật chảy nước mắt. Hiện tượng này báo hiệu điều gì? Thực sự không có câu trả lời chắc chắn cho điều này. Chỉ có điều kỳ lạ là mỗi lần tượng Phật chảy nước mắt đều trùng hợp với một lần con người gặp phải một đại tai nạn nào đó.
.
tượng phật
Lúc bình thường, mắt tượng Phật hơi khép lại. (Hình minh họa: Qua kknews)

Dưới đây xin dẫn chứng về những lần tượng Phật chảy nước mắt trong lịch sử:

Tượng Phật chùa Bình Đẳng chảy nước mắt

Vào thời kỳ Bắc Ngụy, ở kinh thành Lạc Dương có ngôi chùa Bình Đẳng, bên trong có một pho tượng cao đến 2 trượng 8 thước (khoảng 9,3 m) vô cùng uy nghi và trang nghiêm. Vào trung tuần tháng 12, năm Hiếu Xương thứ 3, đời vua Hiếu Minh Đế (tức năm 527 sau CN), hai mắt của pho tượng không ngừng rơi lệ. Nước mắt chảy không ngừng khiến cho toàn thân bức tượng, từ trên xuống dưới đều thấm ướt.

Sau khi tin tức truyền ra ngoài, người dân Lạc Dương từ già đến trẻ, cả nam và nữ đều tấp nập chạy đến chứng kiến cảnh tượng này. Trước chùa Bình Đẳng lúc ấy là một biển người đông nghìn nghịt. Tiếp tục đọc

Cuộc đời Đức Phật

BBCCuộc đời Đức Phật

Khi bạn muốn có một tín ngưỡng, một niềm tin, hãy tìm hiểu đến căn cội của niềm tin ấy! Trong bối cảnh ở Việt Nam, hễ cứ Tết Nguyên đán xong là mùa lễ hội, kéo dài miên mải, chúng ta dễ dàng nhận ra  một sự thật rằng, phần đông trong số lạy lục cầu cúng mải miết nơi cửa chùa chiền ấy, không mấy người tìm hiểu về Đức Phật và những thông điệp mà “Đấng giác ngộ” ấy muốn gửi tới chúng sinh, rằng Ngài không thể giúp được gì cho họ cả, Ngài đơn giản giúp chúng ta khai mở TÂM VÀ TUỆ mình, để tâm – tuệ được soi sáng. An lạc là khi ta chủ động nhận hiểu quy luật sống và đón nhận nó trong sự nỗ lực cải thiện. Chúng tôi trân trọng đăng lại toàn bộ phần thuyết minh bộ phim về cuộc đời Đức Phật do hãng BBC sản xuất để bạn đọc tham khảo.

………………………………………………………….

500 năm, trước khi Chúa Giê- su ra đời, một hoàng tử trẻ đã mở ra một con đường. Ngài đã trải qua đau đớn và khổ ải để đạt tới Niết Bàn – niềm hạnh phúc vĩnh hàng mà tất cả chúng ta đều ước vọng đạt tới. “- Biểu tượng của an lạc! Biểu tượng của Từ bi và phi bạo lực! Đó chính là Đức Phật!” (Đức Đatlai Latma). Tiếp tục đọc

Ý nghĩa của chữ “Văn” trong từ “Văn Miếu”- Văn Miếu thờ ai?

le-phu-bia-tai-van-mieu-tinh-vinh-phuc-03

Nguyễn Văn Nghệ

Đài RFA (Á châu tự do) có bài viết “Văn miếu xưa và nay”đã nhận định về việc một số địa phương ở Việt Nam cho xây dựng Văn miếu: “Vừa qua nhiều địa phương tại Việt Nam rộ lên việc xây dựng công trình phỏng theo Văn miếu ở Hà Nội, tuy nhiên sau khi hoàn thành các địa phương tỏ ra lúng túng không biết đưa vị nào vào thờ chính tại Văn miếu địa phương của họ”. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã trả lời phóng viên về việc này: “Ở tỉnh Vĩnh Phúc người ta đầu tư xây dựng một cái Văn miếu với kinh phí 271 tỷ đồng chẳng hạn, nhưng bây giờ xây xong rồi vẫn bỏ không ở đấy, vì không biết phải đưa những người nào để vào thờ. Nếu đưa Khổng tử vào thì các nhà nghiên cứu, các học giả địa phương người ta cũng phản đối rồi. Hay tỉnh Hà Tĩnh xây đến 80 tỷ một cái Văn miếu thì đến bây giờ vẫn bỏ không. Hay là Văn miếu Sơn Tây nằm trên địa phận xã Đường Lâm cũng xây xong 4 đến 5 năm nay rồi nhưng chưa khánh thành và đưa vào hệ thống thờ cúng được, vì người ta không có lý do thuyết phục để đưa Khổng tử và đó để thờ” (1)

Ý nghĩa của chữ  “Văn” trong từ “Văn miếu”

Năm Khai Nguyên thứ 27 vua Đường Huyền Tông có chiếu truy thụy Khổng tử là Văn Tuyên vương, nên những nơi thờ Khổng tử gọi là Văn Tuyên vương miếu. Đời nhà Minh, niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) rút gọn cụm từ “Văn Tuyên vương miếu” thành “Văn miếu”. Như vậy hai chữ Văn miếu dùng để gọi nơi thờ tự Khổng tử ở Trung Hoa và nước ta bắt đầu sử dụng từ thế kỷ XV trở về sau.

Hai chữ Văn miếu được dịch sang tiếng Pháp là Temple de la littérature, tiếng Anh là Literature Temple đều có nghĩa là “miếu Văn chương”. Riêng học giả Madrolle đã dịch hai chữ Văn miếu sang tiếng Pháp là Temple de la culture littéraire (= Miếu Văn hóa có tính văn chương). Nhà báo Hữu Ngọc nhận xét cách dịch của Madrolle: “Dịch  như vậy có thể sát hơn Temple de la literature( Miếu Văn chương)” (2) Tiếp tục đọc

Nho giáo và pháp luật

.
Phạm Duy Nghĩa
.
Nho giáo và pháp luật

Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống”, tưởng như đã hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lý Tây phương, liệu có còn giá trị đáng kể gì trong cuộc kiến thiết hệ thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước đầu nghiên cứu vai trò và giới hạn của pháp luật trong những phương cách tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật, cũng như đưa ra một vài thiển ý góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày càng gần hơn với cuộc đời. Tiếp tục đọc

Mối liên hệ giữa đại văn hào Lev Tolstoy và Đạo Phật

Thời gian gần đây, có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa Đạo Phật và nhà văn Nga Lev Tolstoy. Vì họ phát hiện trong sách truyện của ông có nhiều quan điểm rất tương đồng với giáo lý nhà Phật..

Thích Nguyên Tạng
.

Trong bài viết này, dù chưa đầy đủ lắm, nhưng hy vọng nó sẽ cung cấp cho độc giả một ít khám phá mới về mối liên hệ ấy.

Lev Tolstoy (1828-1910) là một bá tước, nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng người Nga nổi tiếng và được kính trọng trên khắp thế giới qua tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình (War and Peace), và học thuyết mang chính tên ông – Học thuyết Tolstoy. Ông ra đời vào ngày 28 tháng 8 năm 1828 trong một gia đình quý tộc lâu đời tại điền trang Yasnaya Polyana, tỉnh Tula, Liên Xô (cũ).

Ông mồ côi cha lẫn mẹ từ lúc lên bảy. Ở tuổi 16, ông bắt đầu học ngành luật và ngôn ngữ phương Đông tại Đại học Kazan. Năm 1847, bất mãn với lối giáo dục bằng cấp tại nơi này, ông đã bỏ ngang việc học và trở lại quê nhà để quản lý trang trại gia đình với 300 nông nô và sống một cuộc đời xa hoa quý tộc. Tiếp tục đọc

66 câu Phật học làm chấn động Thiền ngữ thế giới

Đọc được gì là tùy mỗi người…Nhưng xin hãy đọc thật chậm, nghĩ thật kỹ và nhớ thật lâu. Cuối cùng là làm theo được càng nhiều càng tốt…

1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nỗi.

3. Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình. Tiếp tục đọc

Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật

phat-va-kim-cuong-thu-bo-ta

Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật ở Lộc Uyển (người cầm gươm bên phải đức Phật là Kim Cương Thủ Bồ tát), thế kỷ 12 Gandhara – Pakistan (Bảo tàng Metropolitan, New York)

.

Trịnh Bách

Sau khi đạt Chính quả ở Gaya, Bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật Thích Ca là bài thuyết giảng của ngài cho 5 vị Tôn giả, tức là nhóm ông Kaundinya (Kiều Trần Như) ở Sarnath (Lộc Uyển). Dù ngắn gọn, nhưng bài thuyết pháp này được xem là một trong những bài giáo lý quan trọng nhất của ngài. Các học thuyết căn bản của đạo Phật, như Ngũ giới, Bát chính đạo, Lục hạnh Ba la mật, Tứ diệu đế, Duyên khởi; cũng như các kinh Chuyển Pháp Luân (Dhamma-Chakka-Pavattan Sutta), Vô ngã (anattā-lakkhana- suttra), v.v đều có xuất xứ từ bài thuyết pháp ngắn gọn này. Tiếp tục đọc