• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Con đầu đàn “suy tưởng”

Hoàng Hải Vân

Từ những gì mà bạn quan sát khi nuôi chó, bạn có thể nhận ra rằng : Nếu con chó thân thiện với bạn, nó nghĩ bạn là một con chó tử tế. Nếu con chó trung thành với bạn, nó nghĩ bạn là con chó đầu đàn.

1. Tôi nuôi một đàn chó Phú Quốc, giờ đã lên tới 30 con. Chúng sống với tôi trong vườn, như những người thân yêu của một gia đình. Chúng mang đến cho tôi cảm giác an lành, cái cảm giác tôi chưa từng biết trước khi nuôi chó. Người ta bảo chó Phú Quốc là quốc khuyển, là loài chó không thua kém bất cứ loài chó quý nào trên thế giới, thậm chí còn nổi trội hơn. Nhưng tôi không tự hào về điều đó, tôi tự hào về chúng chỉ vì chúng là những đứa con thân yêu của tôi mà thôi. Đối với tôi, bất cứ con chó nào, dù là chó Phú Quốc hay giống chó khác, đều là những con chó kỳ diệu.

Sống với đám chó và nuôi dạy chúng, tôi ngày càng nhận ra sự thật này : Những con chó dạy cho tôi nhiều điều hơn là tôi dạy chúng. Tiếp tục đọc

Advertisements

Hồn xuân trong thơ Nguyễn Bính

Thùy Dương
.

Mùa xuân là mùa gieo lộc, mùa hạnh phúc, lòng người rộng mở, vạn vật giao hoà. Thơ Nguyễn Bính góp phần thổi vào mùa xuân sức sống, gợi lên trong lòng người đọc những xúc động, bâng khuâng chìm đắm…

Nguyễn Bính là một nhà thơ của thôn quê Việt Nam truyền thống. Thơ của Nguyễn Bính mang bản chất trữ tình, đôn hậu. Nhẹ nhàng nhưng chứa chan tình cảm. Trong thơ Nguyễn Bính chúng ta không thấy ngôn từ bóng bẩy, văn hoa của thị thành. Đã từ lâu nhiều nhận xét trên thi đàn văn học qua bộ môn thi ca tiền chiến đều đồng ý cho rằng Thơ Nguyễn Bính gần gũi với dân chúng nhất, gần gũi như cành lá sớm mai, tiếng chim hót trên hàng tre ban trưa và làn khói lam thổi cơm buổi chiều…

Trong mạch thơ tìm về khung cảnh làng quê xưa để hoài niệm, để tìm một sự yên lắng cho tâm hồn tránh những rối rắm của kinh thành đô thị thì những bài thơ xuân của Nguyễn Bính có một ý nghĩa đặc biệt. Mùa xuân là mùa “đâm chồi” những giao cảm tình người. Nguyễn Bính lại là người sớm tha hương phiêu bạt tứ xứ, nên mỗi độ xuân về ông càng thổn thức tưởng đến quê hương, đến người thân.

Nguyễn Bính ở báo Trăm Hoa năm 1957 Tiếp tục đọc

Sương Xuân và Hoa Ðào

.
Vũ Thư Hiên

Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Ðông. Mùa Ðông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà. Thành thử ở Sài Gòn trùng vào những dịp Xuân sang tôi vẫn không thấy lòng mình rung động cảm giác về cái Tết ruột rà, cái Tết đích thực. Xin các bạn Sài Gòn tha lỗi cho tôi nếu trong những lời của tôi có gì làm các bạn phật ý, nhưng mãi tới nay, sau nhiều Tết Sài Gòn, tôi vẫn chưa quen được với một ngày đầu năm phải phơi đầu dưới cái nắng chói chang và trầm mình trong cái nóng hầm hập, làm cho con người phải tìm đến với trái dưa hấu mọng nước trước khi ngồi vào mâm cỗ Tết có đủ thịt mỡ và dưa hành, bánh chưng và giò thủ. Ở mỗi nhà vẫn nghi ngút trầm hương thật đấy, ngoài đường xác pháo toàn hồng vẫn tràn ngập lối đi thật đấy, nhưng cái Tết dường như vẫn còn lạc bước nẻo nào, nó chưa hẳn là Tết, chưa đủ là Tết. Ðành phải viện hai câu thơ mà nhiều người vốn không yêu thơ cũng thuộc, để giải thích nỗi nhớ về đất Bắc, để biện hộ cho cái cảm xúc không phải đạo của mình trước đất Sài Gòn cũng đã trở thành không kém thân thương:

Tự thuở mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

(Huỳnh Văn Nghệ)

Thực ra, chuyện chẳng có gì lạ. Người Việt phương Nam nào mà chẳng có một cái quê còn nhớ hay đã quên, có biết hay không biết, nằm ở phía ngoài kia. Tiếp tục đọc

Vỡ vào chuông giáo đường

KHUẤT BÌNH NGUYÊN giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Vỡ vào chuông giáo đường

Những năm đất nước còn chia cắt. Từ rất sớm miền Bắc đã chăm chú lắng nghe những tiếng vọng xa xôi của văn chương ở các đô thị, thành phố phương Nam. Cuốn thông báo khoa học của Đại học tổng hợp Hà Nội, in năm 1961 – 1962, giới thiệu những khuynh hướng văn học miền Nam đã nói đến Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền. In ở Sài Gòn 1956. Thời gian đã ố vàng trên từng trang sách. Gọi nhớ nhiều kỷ niệm khó quên. Mùa xuân năm 1970 và trước đó. Sinh viên văn khoa đã được nghe hệ thống các chuyên đề của Thầy Hồ Tấn Trai về văn chương miền Nam. Vốn người Thừa Thiên Huế. Trước cách mạng tháng 8-1945, thầy Trai dạy học tư ở Đà Lạt. Thời 1946 – 1947 từng là trưởng ty tuyên truyền của ta ở tỉnh Biên Hòa. Những năm 70, tóc thầy đã bạc sớm, thường trải ngôi ở giữa ngay ngắn. Mùa thu luôn luôn thấy thầy  diện chiếc áo  vest khaki màu trắng ngà. Không hiểu vì sao học trò lại rung cảm với Phục sinh của Thanh Tâm Tuyền. Có lẽ do giọng Huế của thầy nhẹ nhàng mà lại trầm buồn nữa. Thỉnh thoảng còn thêm tiếp đầu ngữ “Cho nên chi… cho nên chi” thật dễ thương. Với hoàn cảnh lịch sử thời “hai phe, bốn mâu thuẫn”, 2 dòng trong – đục trong văn chương mà Thanh Tâm Tuyền ở bên dòng đục, vậy mà sao sau khi gạt đi những từ ngữ vay mượn của chủ nghĩa hiện sinh, lời thơ Phục sinh thật trong sáng qua giọng đọc ngọt ngào xứ Huế; Dường như đã gặp cái ánh nắng trong lành và tiếng chuông yên bình ấy ở đâu đây trên xứ sở của mình mà tôi không nhớ được ra.

.

Ngoài phố nắng thủy tinh

Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

Thanh Tâm Tuyền

Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi.

Không ai nói cho thầy Trai hay cái kết quả vô thức ấy. Tiếp tục đọc

Hoàng Cầm – Gã phù du Kinh Bắc

CHU VĂN SƠN

Hoàng Cầm - Gã phù du Kinh Bắc

1. Tự họa

Trong truyện thơ Men đá vàng, Hoàng Cầm có dựng một nhân vật là Phù Du. Anh chàng kết duyên với Phong Kiều, cô gái đẹp nết đẹp người nhất miền Bát Tràng xưa. Vậy mà không biết đường tận hưởng vinh phúc của mình, gã lại đâm đầu theo cô Thương Lệ, cái ả buôn vàng bán ngọc bên Kinh kì. Phong Kiều đau lòng quá đỗi, cứ lặn lội tìm chồng, ngày trông đêm đợi, rồi tuyệt vọng mà hoá đá. Còn Phù Du nào có được gì cho cam. Gã bị ả kia phụ bạc, ruồng rẫy. Lúc tỉnh trí, hồi tâm, thì quá muộn. Gã cứ ôm xác đá của vợ mà khóc ròng. Khóc như tự vấn, tự xé, tự đay đả, hành hạ. Mãi rồi, sau bao nhiêu vật vã của gã, cùng bao nhiêu thương xót, ấp iu của cả Bát Tràng nữa, thật bất ngờ, thật may phúc, Phong Kiều đã dần dần sống dậy. Lại còn tươi thắm hơn xưa. Kì diệu hơn: từ đấy, nàng sống vĩnh viễn trong men đá vàng. Tiếp tục đọc

Đọc THƯ VIỆN HOA SEN

Thi nhân và Thiền nhân

Thiền nhân và thi nhân đều có thể sáng tạo thơ hay. Thơ của các thiền sư thường là sự phóng thích chút bản ngã cuối cùng, nên nó không sanh từ vọng tưởng. Còn thơ thiền chính là lúc kẻ phàm phu nhón tay vốc được linh tự nơi chân như khi vọng tưởng bỗng nhiên chừng lặng.

Daisetz Teitaro Suzuki – người cố giải mã công án trong 3 tập Thiền luận nói rằng “Thông thường thiền sư cũng là thi sĩ”. Theo ông, “văn học Thiền hưng khởi từ thời Huệ Năng (638 – 713) và nay còn giữ đủ, vẫn đáng cho các nhà thông thái và người tìm chân lí bỏ công nghiên cứu”. Có khoảng 1.750 công án mà Thiền giả thường tham cứu như một hấp hực của hậu nhân học Phật. Công án thuộc hàng khó giải nhất có nội dung: “Ý chỉ của Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn sang Tàu là gì?” Riêng luận về cuộc Đông du của Tổ này, Suzuki đã dẫn ra nhiều lời giải của các thiền sư dưới dạng gần như thơ, ví như hai câu của Đại Đồng Tế đậm đầy thi hứng:

Ta nghe gió rì rào qua khóm
Biết bao ngàn ngọn trúc đong đưa. Tiếp tục đọc

Hòn đá sù sì

Tản văn của Giả Bình Ao (Trung quốc)

Tôi thường tiếc cho hòn đá sù sì trước cửa nhà mình: Nó đen sì sì nằm sấp ở đó như con trâu, chẳng ai biết nó có từ bao giờ, chẳng ai để ý đến nó. Mỗi mùa gặt hái, phơi rơm rạ trước cổng, bà nội lại bảo: “Hòn đá vướng qua bao giờ mới vần nó đi được”.

Vậy là, bác tôi làm nhà muốn lấy đá xây tường, nhưng khổ một nỗi nó chẳng ra hình thù gì cả, không bằng phẳng, không góc cạnh, dùng búa đục thì tốn sức quá, chẳng bằng ra bãi sông gần đó thả sức chọn vác về còn tốt hơn chán vạn. Nhà xây xong, làm bậc hè, bác tôi cũng không chọn đến nó. Năm ấy, có bác thợ đá về làng, đục đẽo cho gia đình tôi chiếc cối đá. Bà nội bảo: “Lấy quách hòn đá này, khỏi phải vần từ xa”. Bác thợ đá ngắm nghía mãi, rồi lắc đầu, chê chất đá mịn quá không dùng được. Tiếp tục đọc