• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Hình ảnh trái ngược giữa “cậu bé tóc băng” và “cô bé tóc băng” nói lên điều gì?

Sau khi hình ảnh cậu bé Vương Phúc Mãn (Wang Fuman) 8 tuổi ở huyện Lỗ Điện thành phố Chiêu Thông tỉnh Vân Nam “đầu đội băng” đến trường được lan truyền trên mạng, ngay lập tức tất cả các cấp chính quyền địa phương Trung Quốc vào cuộc “giải cứu”…
.
Tình cảnh tương phản giữa “cậu bé tóc băng” và “cô bé tóc băng” cho thấy thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc thực sự quan tâm không phải cuộc sống cơ cực của hàng triệu trẻ em nghèo mà chỉ là hình ảnh của cá nhân họ.

Được biết, nơi bé Vương Phúc Mãn muốn đến nhất là Bắc Kinh, tâm nguyện của cậu bé sau khi lớn lên là làm cảnh sát, vậy là ngày 19/1, Đại học An ninh Trung Quốc đã nhanh chóng vào cuộc mở ra “con đường giải mộng” kéo dài ba ngày cho cậu bé bằng cách mời gia đình bé Vương Phúc Mãn đến Bắc Kinh. Chỉ một ngày sau khi từ Bắc Kinh trở về, gia đình bé Vương Phúc Mãn lại thêm một lần nữa được mời trở lại Bắc Kinh. Tiếp tục đọc

Advertisements

Nhìn lại vụ án tranh chấp đất đai lớn thời Pháp thuộc và một phiên tòa chính nghĩa

Vụ án Nọc Nạng (có nơi ghi Nọc Nạn) là một vụ tranh chấp đất đai lớn diễn ra vào thời Pháp thuộc, giữa một bên là các gia đình nông dân, và một bên là các viên chức làng, chủ đất tha hóa và cảnh sát Pháp. Vụ việc đã dẫn tới cái chết của 4 người Việt (trong đó có 1 phụ nữ mang thai) và một người Pháp. Luật sư người Pháp đã biện hộ cho những người nông dân, và chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của tranh chấp đất đai là những kẻ tha hóa cùng chính sách bất hợp lý của người Pháp. Điều cần chỉ ra là, kết thúc phiên tòa, hai bị cáo được tha bổng, một người bị 6 tháng tù giam, và một người 2 năm tù giam (vì tiền án ăn trộm).
.

Diễn tiến vụ việc tranh chấp đất đai

1 – Nhà Hương chánh Luông khai phá đất

Trước 1900, một nông dân đến khai phá khu rừng ở rạch Nọc Nạng, được 73 ha. Năm 1908, nông dân này chết, để lại đất cho con là Hương chánh Luông. Khi khai phá, Bạc Liêu còn hẻo lánh, việc đo đạc ruộng đất, lập bản đồ đất đai chậm so với các tỉnh khác ở Nam Kỳ.

Năm 1910, Hương chánh Luông chính thức làm đơn xin khẩn 20 ha đất, chịu đóng thuế trên diện tích này, được chính quyền chấp nhận bằng văn bản. Năm 1912, gia đình Luông lại làm đơn xin đo đạc và cấp bằng khoán (giấy chứng nhận sở hữu đất) chính thức cho toàn bộ diện tích đất canh tác 73 ha. Chủ tỉnh Bạc Liêu chấp thuận, trao cho Luông bản đồ phần đất. Tiếp tục đọc

Vấn đề “đê đoan nhân khẩu” ở Trung Quốc

KHẮC TRUNG

Hai tháng nay, đương cục thành phố Bắc Kinh tiến hành thanh lý triệt để dân ngoại tỉnh, nông dân công, người làm các nghề dịch vụ tạp vụ, không có hộ khẩu thành phố, v.v… ra khỏi thành phố, chính quyền Bắc Kinh dùng từ “đê đoan nhân khẩu” (nghĩa đen từng chữ: Đê là thấp, Đoan là đầu mút, tức là nhân khẩu đầu mút thấp.Theo tiếng Anh là: Low-end population) để chỉ những người này, đã gây tranh cãi về nội hàm từ này là không khoa học, có ý miệt thị tầng lớp người này. Tranh cãi sâu hơn là, thực chất tầng lớp này là ai ? được hình thành như thế nào ở Trung Quốc, trên thế giới ? Vai trò của họ đối với sự phát triển của xã hội thế nào ? Trung Quốc và thế giới đã nhìn nhận và đối xử với tầng lớp này như thế nào ? Vân vân … Tiếp tục đọc

Cả triệu người nhận gạo “cứu đói”, còn họ chia nhau hàng tỷ đồng tiêu Tết…

Đã bước vào những ngày cuối năm. Hết đợt lạnh này đến đợt rét khác, miền Bắc căm căm gió bấc, mưa phùn. Các đồng nghiệp của tôi lại cần mẫn kêu gọi, gom góp áo quần; chắt chiu từng gói mì, hộp bánh từ tấm lòng hảo tâm của độc giả gửi đến để xoa dịu cái đói, xua đi cái rét cho đồng bào miền núi, cho những mảnh đời không may.

Lại nhớ vừa mới đầu năm nay, ông Phạm Phan Dũng, Tổng cục trưởng Cục dự trữ Nhà nước cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ cho biết, Tết Đinh Dậu (2017) vừa qua, cả nước có đến 15 tỉnh xin hỗ trợ gạo cứu đói và hơn 12.400 tấn gạo đã được xuất cấp từ nguồn dự trữ quốc gia. Ước tính, gần 1 triệu người thuộc đối tượng được nhận gạo hỗ trợ từ Chính phủ. Đó là những hộ nghèo, những gia đình gặp khó khăn vì thiên tai, bão lũ. Tiếp tục đọc

Nhìn lại hai cuộc cải cách ruộng đất ở miền Nam mà ít người biết đến

Ai cũng biết, khoảng thời gian từ 1953 đến 1956, ở Miền Bắc xảy ra cuộc cải cách ruộng đất mà báo chí gọi là “long trời, lở đất”. Tuy nhiên, có hai cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Nam mà rất ít người được biết đến. Cả hai cuộc cải cách ruộng đất này đều bị gián đoạn giữa chừng do biến động chính trị, nhưng cách làm và hệ quả của nó lại khiến người ta phải suy ngẫm.
.

Nhìn lại hai cuộc cải cách ruộng đất ở miền Nam mà ít người biết đến

(Ảnh qua Facebook Duy Tu Ha)

Cuộc cải cách điền địa của Đệ nhất Việt Nam Cộng hoà (1955-1963)

Đây là cuộc cải cách nhằm phân phối lại điền địa trong khuôn khổ chương trình “Cải cách nông nghiệp” và “Phát triển nông thôn”. Cuộc cải cách ruộng đất này do tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm thi hành. Vào thời điểm đó, ở Việt Nam Cộng hoà (VNCH), tình hình đất đai tồn tại nhiều bất cập bất công, đó là:

  • Sở hữu đất đai chênh lệch quá lớn: 2.5% đại điền chủ sở hữu tổng số 45% đất đai, trong khi đó 73% tiểu điền chủ chỉ sở hữu 15% đất đai.
  • Lúc đó mức tô, thuế mà các điền chủ đặt ra rất cao (40-60%).
  • Việc thuê mướn giữa chủ đất và tá điền không có hợp đồng cụ thể dẫn đến thua thiệt lớn có thể đến với tá điền bất cứ lúc nào.

Đứng trước tình hình đó, tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ dụ 3 đạo luật chính đó là: Tiếp tục đọc

Đặc điểm văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc từ kho tàng phương ngôn xứ Bắc

20170915091109-5

Khổng Đức Thiêm  

  1. BẮC NINH – CÁI NÔI KINH THI CỦA TRỜI NAM

Khi bắt tay vào sưu tầm, ghi chép Nam phong giải trào (Thơ dân gian của người Nam theo kiểu Kinh thi) và Nam phong nữ ngạn thi (Ngạn ngữ bằng thơ về phụ nữ nước Nam), Trần Danh Án (Liễu Am), Ngô Đình Thái (Ngô Hạo Phu) và Trần Doãn Giác[1] đã ngầm khẳng định, thơ ca dân gian của người Việt không hề thua kém Kinh thi của Trung Quốc. Và, nhờ có những công trình trên, khi bắt tay biên soạn bộ Quốc chí đồ sộ mang tên Đại Nam nhất thống chí, Cao Xuân Dục và các sử quan trong Quốc sử quán triều Nguyên đã không ngần ngại xác quyết rằng, tại vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc xưa “đến như những câu ca dao nơi xóm làng có liên quan đến phong hóa cũng có thể gần các câu trong Kinh thi”[2].

Nam phong giải trào và Nam phong nữ ngạn thi ra đời vào khoảng cuối Lê, đầu Nguyễn. Theo lời bạt đầu sách do Trần Doãn Giác viết thì:

“Tiên sinh Liễu Am gặp thời buổi gian nan, tăm tối thường hay mượn lời trào lộng, hài hước để ghi lại lời trung phẫn của mình. Tiên sinh Ngô Hạo Phú thì cùng sống trong cảnh hoạn nạn không kém nên cũng mượn lời ngâm để tiêu khiển nỗi sầu muộn. Giác tôi, sau đường quê từng trải, lòng hằng yêu mến những câu phong dao nơi xóm ngõ, những khúc hát cửa đình, bèn thu nhặt mà dịch ra Hán văn”. Tiếp tục đọc

Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa nông thôn trong bối cảnh hiện nay

HỒ XUÂN HÙNG

Văn hóa làng quê là nền tàng căn cốt nhất, xa xưa nhất của văn hóa dân tộc. Bản sắc văn hóa làng quê là yếu tố nền tảng tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Giữ gìn nó là giữ gìn truyền thống và bản săc văn hóa quốc gia dân tộc. Trong quá trình xây dựng và phát triển, trường hợp Việt Nam, nếu phá vỡ, hủy hoại văn hóa làng xã, thôn quê là xóa nhòa/bỏ truyền thống văn hóa dân tộc. Bảo tồn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa nông nghiệp, nông thôn trong xây dựng nông thôn mới hiện nay là vấn đề quan trọng, không chỉ hiện tại mà ảnh hưởng lâu dài trong tương lai. Tiếp tục đọc