• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Phụ huynh phản biện cách đánh vần của GS Hồ Ngọc Đại

(CN) – Trong tiếng Anh, cùng một nguyên âm, tuỳ chữ, có thể có những phát âm khác nhau. Học tiếng Anh, mỗi một từ đều có một phiên âm riêng và người học phải chấp nhận như người Anh vẫn phát âm khi nói. Rầy rà đấy chứ? Nhưng tại sao nó vẫn là thứ ngôn ngữ mà người học trên khắp thế giới đều cho là dễ tiếp thu? Và, hẳn thế, từ lâu nó đã trở thành thứ ngôn ngữ quốc tế.

—————————–

Nguyên tắc chính của ngữ âm là một âm ứng với một ký tự, nhưng cách đánh vần của GS Hồ Ngọc Đại vi phạm hoàn toàn.

Mấy ngày nay tôi nghe các phản biện về cách học Tiếng Việt theo chương trình sách công nghệ. Với tư cách phụ huynh có con sắp bước vào năm học đầu tiên bậc tiểu học, tôi cũng không muốn con học theo chương trình này, bởi các lý do.

Thứ nhất, tôi muốn nói về cách dùng hình vuông, tròn, tam giác… Mục đích thứ nhất là đếm tiếng trong câu. Điều này là không cần thiết với Tiếng Việt. Trong Tiếng Anh có rất nhiều tiếng đa âm. Ví dụ “computer” bao gồm ba âm. Ngoài ra họ còn âm gió, âm câm… Vì một từ có thể đa âm nên họ nói rất nhanh trong giao tiếp dẫn đến khó nghe, nghe nhầm. Chưa kể cách đọc các âm còn phụ thuộc vào trọng âm (trọng âm rất quan trọng trong tiếng Anh). Vì vậy, cách phân tách các từ thành từng âm rất phù hợp để người học không bỏ sót âm trong từ và dễ dàng trong việc xác định trọng âm. Tiếp tục đọc

Advertisements

Nguyễn Văn Vĩnh, một dịch giả uyên bác

Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh - Ảnh: nguyenvanvinh.net

Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936)

Thu Trang (Paris)
.

Có thể từ đầu thế kỷ, do hoàn cảnh lịch sử, người Việt Nam đã tiếp cận văn hóa Pháp. Chúng ta phải công nhận phần ảnh hưởng phong phú do các luồng tư tưởng, quan niệm Tây phương đã tác động đến giới trí thưc và văn nghệ sĩ nhiều ngành.

Nếu cuối thế kỷ XIX các nhà nho còn đọc những tác giả lớn của văn hóa Pháp như: Voltaire, Montesquieu, J. J. Rousseau qua bản dịch chữ Hán, thì đầu thế kỷ XX các vị trí thức – một phần tuy ít – đã đọc thẳng Pháp ngữ. Thế hệ này đã có một số vị rất am hiểu không những Pháp ngữ mà cả phần nào nền văn minh châu Âu. Một số đã dịch văn thơ Pháp sang Việt ngữ, và cũng có những tác phẩm Việt Nam dịch sang Pháp ngữ. Trên phạm vi học thuật này, không kể về chính kiến, thì chúng ta có những trí thức uyên bác, thông thái. Phải làm thống kê mới xác định được có bao nhiêu công trình dịch thuật từ hai phía: Thơ, văn Việt Nam và các nước ngoài; Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Anh, Mỹ v. v… Các vị này đã xứng đáng là học giả trong công việc giao lưu văn hóa, giới thiệu nền văn minh Việt Nam. Riêng hai tiếng Pháp Việt từ thời ấy đã có vài vị đã biên dịch một cách hữu hiệu với tinh thần khách quan, bình đẳng… không mặc cảm. Những công trình của họ vẫn giữ nguyên giá trị cho đến hiện tại. Một trường hợp khá rõ và đáng nhắc nhở đó là: Nguyễn Văn Vĩnh với bản dịch KIM VAN KIEU. Tiếp tục đọc

BA VẤN ĐỀ LỚN TỪ MỘT CHIẾC THẺ LÊN TÀU … RẤT NHỎ

Nguyễn Quang Thiều – 12-8-2018 

Cách đây mấy ngày, tôi nhìn thấy trên FB của thầy giáo tôi, thầy Nguyễn Tích Lăng, những tấm biển chỉ dẫn các nhà ga của tuyến đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh. Tôi sững sờ. Trên các tấm biển chỉ dẫn đó ghi 2 thứ tiếng: Trung và Việt. Tiếng Trung ở trên và tiếng Việt ở dưới. Tôi mò vào tìm đọc thông tin này thấy một tờ báo online chính thống nói thông tin từ Ban quản lý (phía Việt Nam) giải thích đó là lỗi của nhà thầu (phía Trung Quốc) chứ không phải của Ban quản lý và lý do họ đề tiếng Trung Quốc vì để cho các chuyên gia Trung Quốc đang giúp vận hành thử tàu. Tờ báo cũng nói những biển chỉ dẫn đã được tháo bỏ. Vì thế tôi không định bàn về việc đó nữa.

Nhưng tối qua tôi thấy trên một số FB đưa chiếc “ thẻ lên tàu” cũng in 2 thứ tiếng Trung và Viêt. Và tiếng Trung vẫn in trên phần tiếng Việt. Đến lúc này, câu chuyện ngôn ngữ đã cho thấy ba vấn đề quan trọng.

VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: Đó là nguyên tắc sử dụng song ngữ trong các văn bản, biển hiệu, tên các công trình, các khu du lịch, địa điểm văn hóa…. Khi sử dụng song ngữ hay nhiều ngữ trong một văn bản thì tiếng của nước sở tại (ở đây là Việt Nam) phải được đưa lên đầu tiên. Đấy là văn hóa, là chủ quyền quốc gia. Mọi sự là khác đi là vô tình (có thể hữu ý) xúc phạm đến chủ quyền của nước sở tại cho dù chỉ là vấn đề ngôn ngữ. Sau này khi nhà ga chính thức họa động thì hai thứ tiếng được sử dụng đầu tiên là Việt và Anh. Nếu thêm các tiếng khác thì phải tính đến các nhu cầu cần thiết và hợp lý của ngôn ngữ đó cho sinh hoạt và kinh doanh.  Tiếp tục đọc

Tìm hiểu từ-ngữ gốc ‘Hán’

dHVfZGllbl9oYW5fdmlldA==.jpg

Trần Ngọc Dụng

Tổng quát

Do định mệnh lịch sử, tiếng Việt chúng ta có một số lượng khá lớn từ tiếng Tàu trong kho từ-vựng mà chúng ta thường quen gọi là chữ Hán. Thật ra mà nói, những từ-ngữ này nên được gọi nôm na là chữ Tàu chuyển tự. Vi sao? Do tài trí của cha ông ta đã tạo cho chính dân tộc mình một lối thoát kỳ diệu để tránh không bị đồng hoá mặc dầu bị đô hộ trên một ngàn năm (111 trước tây lịch – 938 sau tây lịch) và sau đó hoàn toàn tự chủ.

Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ và dùng xen lẫn trong vài trường hợp là chuyện bình thường của cả thế giới; tuy nhiên, trường hợp của Việt và Tàu thành hình trên căn bản khá “bất thường”, tức là bị áp đặt, thay vì tự nhiên do mối giao tiếp giữa hai dân tộc qua buôn bán, ngoại giao, tiếp xúc, hôn nhân, hay lý do nào khác.

Thảm khốc hơn nữa, trong suốt chiều dài lịch sử nước Việt, quân Tàu nói chung hay quân của các triều đại bên Tàu từ Tần, Hán, Tuỳ, Đường, Tống, Nguyên, Minh, đến Thanh đều luôn luôn tìm cách xâm lăng nước ta, bắt đầu bằng sự xâm lăng của nhà Hán. Có lẽ do vậy mà chúng ta thường gọi chữ Tàu là chữ Hán?!

Dù sao thì định mệnh lịch sử đã để lại cho lớp người sau như chúng ta một số lượng khá lớn chữ Tàu chuyển tự trong kho tàng từ-ngữ mà chúng ta dùng. Để làm sáng tỏ cái hệ quả này, bổn phận chúng ta là cần tìm hiểu thật rõ từ-ngữ gốc “Hán” hay chữ Tàu là gì. Qua đó, chúng ta tiếp tục nối lại truyền thống độc lập về ngôn ngữ để duy trì độc lập về truyền thống mà ông cha ta đã gầy dựng nên. Tiếp tục đọc

Mối tương đồng lý thú giữa tục ngữ Việt Nam và tục ngữ nước ngoài

Mọi ngôn ngữ đều có những câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng những nhận xét sắc bén về kinh nghiệm sống. Tên của những câu nói ngắn gọn đó là Tục Ngữ trong tiếng Việt và Hán, Proverb trong tiếng Anh, Proverbe trong tiếng Pháp, Dicho trong tiếng Tây ban nha, Proverbio trong tiếng Ý, và Sprichwort trong tiếng Đức. Với khả năng tóm gọn ý tứ, tô điểm cho lời văn thêm mặn mà, và chứng minh lý lẽ một cách hùng hồn, tục ngữ đóng một vai trò đáng kể trong ngôn ngữ thường nhật.

Điều nổi bật nhất là sự tương đồng trong nội dung của tục ngữ nhân loại. Chẳng hạn, các tục ngữ Yêu Ai Yêu Cả Đường Đi của người Việt, Love Me, Love My Dog của người Mỹ, và Ái Ốc Cập Ô 爱 屋 及 烏 của người Tàu đều có chung một ý nghĩa. Có khác chăng thì chỉ là phương tiện diễn tả. Người Việt yêu thơ nên đề cập đến người mình yêu và con đường mang dấu chân người ấy; người Mỹ mê chó cho nên khi mê ai thì cũng mê chó của người ấy luôn cho tiện việc; và người Tàu thì diễn tả kinh nghiệm ấy như một bức tranh thủy mặc, rất có thể đã căn cứ vào một điển tích nào đó. Trong tiếng quan thoại, Ái Ốc Cập Ô phát âm là [àiwu-jíwu], với điều đáng nói ở đây là lối chơi chữ: Hai từ [wu] đồng âm nhưng dị nghĩa; từ thứ nhất nghĩa là “nhà” và từ thứ hai nghĩa là “quạ.” Vậy thì nghĩa đen của tục ngữ này là nếu yêu một căn nhà nào thì yêu luôn cả mấy con quạ (một loại chim đen đủi xấu xí với tiếng kêu buồn thảm) đậu trên mái nhà đó. Ba tục ngữ vừa kể nói lên một sự thực tâm lý khó chối cãi mà tiếng Anh mệnh danh là “the halo effect” (hiệu lực hào quang). Tiếp tục đọc

Bỡn cợt, cái nhẹ khôn kham của chữ nghĩa

Frédéric Ferney
Kiệt Tấn dịch
.

Dẫn nhập 

Dí dỏm, pha trò, bỡn cợt, khôi hài, hóm hỉnh, cà tửng, giễu cợt, thanh tiếu, vân vân… Thiệt khó lòng mà kiếm được một chữ Việt tương đương để thể hiện trung thực tinh thần tiếng “humour” của Pháp, “humor” của Anh. “Dí dỏm” thì thoảng mùi son phấn, “pha trò” thì giống như là nói chuyện, “khôi hài” thì nặng kịch tính, “giễu cợt” thì có vẻ nhạo báng, “cà tửng” thì quá bình dân, “thanh tiếu” thì hiu hiu bác học, “tinh nghịch” thì lăng xăng phá phách…

Sau khi vò đầu bứt tóc và vò tóc bứt đầu nhiều đêm dài thế kỷ, làm con chim bói cá u mê chuyên xủ quẻ xem xăm đậu trên căn nhà màu tím, làm con sâu nhỏ trăn trở rong rêu sỏi đá hiu hắt đèn vàng ga nhỏ rất là hằn lên nỗi đau, phom phom chìm xuống vực sâu tiếc nuối ăn năn xin lỗi cuộc đời (music, please!)… người dịch bèn lấy một quyết định sáng suốt trước khi hành động mù quáng: chọn chữ “bỡn cợt” để thể hiện tinh thần của tiếng “humour”, cho nó được chắp cánh (thiên thần) nhẹ nhàng zui zẻ (mạnh khoẻ bà con… là cái chắc!).  Tiếp tục đọc

CHỮ “HOA” TRONG TRUYỆN KIỀU

Đọc truyện Kiều người ta dễ thấy là Đại Thi hào Nguyến Du thường dùng rất nhiều chữ “hoa” : Khi là hoa hồng, hoa đào. Khi là người đàn bà đài các, nhưng cũng có khi là kẻ hầu người hạ. Cũng có khi là kiệu hoa, thuyền hoa, tờ hoa, trướng hoa, cũng có khi là tâm trạng, tâm sự… chữ hoa biến hóa thiên hình vạn trạng mọi chỗ mội nơi. Tôi nhớ mẹ tôi là người “mù chữ” cả cuộc đời “bán mặt cho đất bán lưng cho trời “nhưng bà là người thuộc rất nhiều câu Kiều. Bà đã dùng Kiều để bói cho thân phận Bà và bạn bè của bà. Thuở thiếu thời tôi cũng thường được bà hát ru trong giấc ngủ . Tôi đã đọc lại quyển truyện Kiều để thể hiện tình cảm của mình đối với người Mẹ và những người ham thích truyện Kiều. Tôi đã tỷ mẩn sắp xếp bố cục trình tự theo truyện Kiều để đến với chữ “Hoa”. Xin gửi tới quý vị cũng là để thể hiện tình cảm của cá nhân đối với Truyện Kiều :
I – Từ câu 1 đến câu 38 :
Mở đầu :
+ Tài mệnh ghét nhau ( câu 1 đến câu 6)
+ Gia thế và tài sắc hai chi em Kiều (câu 7 đến câu 38) có 2 chư hoa :
– Hoa cười ngọc thốt đoan trang
– Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
II – Từ câu 39 đến câu 568 : Tiết Thanh minh- Kiều gặp Kim Trọng:
+ Chị em Kiều đi Thanh minh, khóc mả Đạm Tiên ( câu 39 đến câu 132 ) có 4 chữ hoa: Tiếp tục đọc