• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Nguyên Ngọc từ góc nhìn lý luận văn học

PHAN TRỌNG HOÀNG LINH – 14/09/ 2018

Hiếm có nhà văn nào ở Việt Nam lại quan tâm, cập nhật tri thức lý luận văn học, và hơn thế, dịch thuật, giới thiệu nhiều công trình lý luận có giá trị của nước ngoài ra tiếng Việt như ông. Có thể kể tên những tác phẩm quan trọng như Văn học là gì? của Jean-Paul Sartre, Nghệ thuật tiểu thuyếtNhững di chúc bị phản bội của Milan Kundera, Độ không của lối viết của Roland Barthes, Sử thi và tiểu thuyết của Guy Scarpetta, Phi thực dân hóa tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee… Điều mà tôi chú ý là, từ các tác phẩm lý luận được ông chuyển ngữ phóng chiếu vào những trang viết mang nhiều giá trị lý luận của ông, ta có thể phát hiện được một ý tưởng có tính nền tảng cho mọi thực hành diễn ngôn trong các khu vực văn hóa của ông sau này, gồm cả diễn ngôn văn học. Ý tưởng đó cũng là nền tảng đầu tiên, cơ bản và thiết yếu trong lập trường đối thoại trước mọi vấn đề ông quan tâm. Ý tưởng đó như sau: Tiếp tục đọc

Advertisements

Văn học thế giới đang thay đổi

HORACE ENGDAHL – 07/09/2018

Horace Engdahl sinh 1948 tại Thụy Điển là nhà văn và nhà phê bình văn học, chuyên gia về chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện đại sơ kỳ. Ông là đồng sáng lập và chủ biên từ 1977 đến 1988 tờ tạp chí mỹ học quan trọng Kris và đã viết nhiều bài về các vấn đề lịch sử và lý thuyết liên quan đến hình thức văn học. Năm 1997 ông được bầu vào Viện Hàn lâm Thụy Điển và từ 1999 đến 2009 là thư ký thường trực của Viện. Ông là thành viên Ủy ban giải Nobel văn chương từ 1998. Các ấn phẩm của ông chủ yếu là các bài tiểu luận phê bình và các tập châm ngôn. Tiếp tục đọc

Chữ nghĩa một thời: Thằng Kên và cán binh Tuân

Tác giả: Phạm Thị Hoài (Báo Trẻ)

Khi Thượng Nghị sĩ John McCain qua đời, có hai văn bản được những người Việt quan tâm đem ra đọc lại. Một, tùy bút “Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào” của Nguyễn Tuân; và hai, hồi ký của John McCain về năm năm rưỡi là tù binh chiến tranh tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tùy bút của Nguyễn Tuân viết cuối năm 1967, đăng lần đầu trong tuần báo Văn nghệ số 250 ra ngày 25/2/1968, sau đó in trong tập tùy bút Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, do Hội Nhà văn Hà Nội xuất bản cuối năm 1972, một số trích đoạn gần đây được đăng lại trên báo chí trong nước. Hồi ký của John McCain đăng trên tuần tin US News & World Report ngày 14/5/1973bản dịch tiếng Việt được phổ biến trên báo chí hải ngoại.

Tùy bút của Nguyễn Tuân

Tác phẩm này nằm trong loạt ký sự gồm những bài tương tự về thành tích bắn rơi máy bay Mỹ của Hà Nội trong chiến tranh không quân ở miền Bắc Việt Nam. Nếu không phải là McCain – tức “thằng quan tư Mích Kên” theo cách gọi của Nguyễn Tuân – người sau này thành một chính khách Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn và từ vị trí đó tác động nhiều mặt đến quan hệ Việt-Mỹ, mà là “thằng quan ba Nin Giôn tội phạm”, “thằng tù quan hai Cờ Lác” hay những thằng “giặc bay”, “giặc lái” khác mà nhà văn danh tiếng đều phỏng vấn, thì tùy bút “Đèn điện” chắc chắn không được đặc biệt chú ý. Tiếp tục đọc

Trò chơi văn bản và những tương tác

Nhã Thuyên An ninh Thế giới cuối tháng

1. Một sự lý thú về kĩ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam gần đây (dù không còn xa lạ trong văn chương thế giới): nhà văn trở thành nhân vật trong văn bản, “gây nhiễu” ngoài bản thân các kí tự. Mối quan hệ tương tác giữa nhà văn & văn bản, văn bản này & văn bản khác, nhà văn & người đọc, văn bản & người đọc, đời sống thực & hư cấu… được thiết lập. Tất nhiên, không phải cách thức này có giá ở mọi cuốn sách.
.

Tôi chỉ bắt đầu với một ví dụ có thể coi là thành công: China Town của Thuận (NXB Đà Nẵng, 2005), trong đó, việc đưa tiểu sử vào tác phẩm một cách lộ liễu để “cố tình đánh lừa độc giả” như lời phát biểu của Thuận gợi những điều xa hơn. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BÍNH – NHÀ THƠ ĐIỆU NÓI TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945

Trần Đình Sử – Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội

Trần Đình Sử

Bất cứ nền thi ca nào đủ lớn đều thấy có quy luật này. Trên nền tảng các hình thức thi ca dân gian rất phong phú, đa dạng hình thành nên một giai đoạn thi ca cổ điển có tinh chất quy phạm. Các hình thức quy phạm kết tinh thành những kiệt tác, rồi đến giai đoạn cá tính bùng nổ, các hình thức quy phạm bị phân rã để thay thế những hình thức thi ca mới. Cái yếu tố làm rạn nứt hình thức quy phạm kia là những câu thơ điệu nói. Câu thơ điệu nói đã xuất hiện trong tiểu thuyết bằng thơ của Pushkin, trong các trường ca Nga thế kỉ XIX, trong thơ của Maiakovski, thơ của Anna Akhmatova làm đổi thay  nghệ thuật thơ. Câu thơ điệu nói Trung Quốc xuất hiện vào thời Ngũ Tứ (1919)  ở trung Quốc trong thơ của Hồ Thích, Quách Mạt Nhược, Văn Nhất Đa, Phùng Chí, Băng Tâm…tạo nên phong trào thơ mới của Trung Quốc[i]. Câu thơ điệu nói cũng xuất hiện trong thơ Mới Việt Nam năm 32 – 45 tạo nên cuộc cách mạng trong thi ca Việt Nam với hàng loạt tên tuổi mà Nguyễn Bính là một.

Vậy thơ điệu nói là gì? Tiếp tục đọc

THƠ VĂ LÝ-TRẦN – NGHĨ VỀ “TƯ CÁCH TRÍ THỨC” (1) CỦA GS. NGUYỄN HUỆ CHI

Thơ văn Lý – Trần là bộ sách đồ sộ gồm 3 tập: tập 1 (1977), tập 2 quyển thượng (1988), tập 3 (1978), dày 2.419 trang, bao gồm 914 đơn vị văn bản. Đây là bộ tuyển tập thơ văn Việt Nam tính từ khi Ngô Quyền dựng nước (938) cho đến sát trước khi Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh (1418), trải qua 5 thế kỉ, 7 triều đại: Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần.

Thơ văn Lý – Trần là một công trình nổi tiếng của ngành nghiên cứu văn học và theo như lời của GS. Nguyễn Huệ Chi trong video trả lời phỏng vấn của Văn Việt, “là một trong những công trình nghiên cứu khoa học hàng đầu của Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(2). Bộ sách là một công trình tập thể, có sự đóng góp của nhiều người nhưng với tư cách là người chủ chốt, có công lao chính, Thơ văn Lý – Trần đã đem lại danh tiếng cho vị giáo sư này. Nguyễn Huệ Chi được đánh giá cao không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài. Đây là những “tiết lộ” của ông: Tiếp tục đọc

Tiểu thuyết Người con gái viên đại úy của Puskin – câu chuyện dùng sử để đọc văn và việc lấy văn để viết sử

капитанская-дочка.jpg

Lê Thời Tân

  1. Dùng sử đọc văn và việc bỏ quên hình thức của cuốn tiểu thuyết

“Sự thật lịch sử” về cuộc “chiến tranh nông dân 1773-17751 [5 tr.363] do E.Pugatsốp cầm đầu đã từng được Puskin trình bày trong cuốn “Lịch sử Pugatsốp” (История Пугачева2) với các “sử liệu” và “kết luận lịch sử” cụ thể. Và rồi đến lượt sự thật lịch sử này lại trở thành chất liệu nghệ thuật cho nhà tiểu thuyết Puskin viết cuốn Người con gái viên đại úy (1836). Thời đại lịch sử được chiếm lĩnh trở lại lần nữa theo cách khác. Với Puskin, tiểu thuyết Người con gái viên đại uý là để trình bày một “sự thật lịch sử” riêng. Đó là sự thật của nhân cách, tâm hồn một Grinhốp, một Pugatsốp mà ta không tìm thấy trong các phẩm sử học, chẳng hạn cuốn Lịch sử Pugatsốp cũng của chính Puskin. Chúng ta hãy nhớ đến ý kiến của L.Tônxtôi trong một tác phẩm cũng gọi là “thiên bút kí” (Luyxernơ) về sự kiện đám nhà giàu trên dưới trăm vị sau khi nghe một người hát rong phục vụ trong nửa giờ, thay vào những đồng xu trả công lại chỉ ném vào chiếc mũ để ngửa những lời chế giễu: “Biến cố đó quan trọng, nghiêm chỉnh hơn và có ý nghĩa sâu sắc hơn tất cả các sự kiện đã được ghi chép lại trên các báo và trong các pho sử”.[8 tr.233-234]. Cũng như Puskin, Tônxtôi cho rằng văn học có mối quan hệ riêng của nó đối với lịch sử xã hội. Đáng tiếc cái chân tinh thần của mối quan hệ cách riêng của văn chương với lịch sử xã hội thường vẫn bị cách đọc của các nhà nghiên cứu phê bình nệ sử (và không chỉ mỗi nệ sử) làm cho sai lạc đi. Chỉ cần theo dõi một lượt các chú thích của các nhà biên khảo cuốn Alếchxanđơrơ Puskin – Tuyển tập Văn xuôi  (Nhà xuất bản Cầu Vồng, 1985)4là đủ thấy vấn đề. Ta thử đọc lại tiểu thuyết này theo cách lướt qua những chỗ có chú thích đó – những chú thích tiêu biểu cho cái khuynh hướng mà chúng tôi tạm gọi là “dùng sử đọc văn”  bỏ quên hình thức của cuốn tiểu thuyết. Tiếp tục đọc