• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

ĐIỀU TRẦN CANH TÂN ĐẤT NƯỚC

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

ĐIỀU TRẦN CANH TÂN ĐẤT NƯỚC

(1828 – 1871)

“Ðất nước sơn hà ai đó chủ

Biết đem tâm sự hỏi trời thôi“ 

Nguyễn Quý Đại

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại làng Bùi Chu, xã Ðoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ ông Nguyễn Quốc Thư hành nghề Ðông y sĩ, xuất thân gia đình ảnh hưởng Nho giáo, theo Thiên Chúa Giáo. Lên mười tuổi thân phụ dạy học chữ Hán cho đến năm 14 tuổi theo học với thầy tú Giai ở Bùi Ngoã, bản chất thông minh xuất chúng, năm 1855 được Giám mục xứ Ðoài, người Pháp Gauthier, tên Việt Nam là Ngô Gia Hậu, mời dạy chữ Hán cho các giáo sĩ và ngược lại ông học tiếng Pháp và La Tinh, ảnh hưởng văn hóa Tây và Ðông Phương. Tiếp tục đọc

Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích (ký sự trên thuyền đi sứ với vua Quang Trung (giả) năm 1790

PHẠM TRỌNG CHÁNH

 

Tinh Sà Kỷ Hành, là tập thơ kiệt tác hàng đầu trong kho tàng thi ca chữ Hán của Việt Nam, được vua Quang Trung khen ”thơ văn ông có khí cốt” và Ngô Thì Nhậm ca ngợi thơ văn  ông “đắc vô tà chi tư “ (có được cái nghĩ không sai trái). Phan Huy Ích viết ký sự bằng thơ, bằng nguyên dẫn, chú thích  cuộc đi sứ thú vị nhất trong lịch sử bang giao  Trung Hoa và Việt Nam là cuộc đi sứ năm 1790 thời Tây Sơn sau trận chiến thắng Đống Đa. Nhà Thanh phải tiếp rước chiêu đãi trong hơn sáu tháng một sứđoàn đông đảo 150 người tổng cộng nhà Thanh phải tốn đến 800 000 lạng bạc, khác với sứđoàn bình thường khoảng 30 người. Lần đầu tiên có một ông vua Việt Nam sang Trung Quốc, lại làông vua Quang Trung giả, với sự thông đồng giữa Tổng Đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh Phúc Khang An và Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm Việt Nam  qua mắt  vua Càn Long. Sứđoàn còn có hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, một ban hát bội Bình Định và hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi , sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc.. Sau cuộc chiến, việc nối lại bang giao nhằm tránh việc trả thù  dai dẵn hao tổn xương máu, tài sản cả hai bên, và bảo đảm một hoà bình lâu dài trước một đế quốc  gấp mười lần nước ta. Vai trò các sứ thần trong việc ngoại giao trở thành vai trò hàng đầu. Trong trận tuyến hòa bình ngày xưa, sứ thần được xem là những Thi tướng trong thi trận. Nhanh nhẹn làm thơứng đối để khiến đối phương khâm phục công nhận mình là một nước văn hiến. Khi vào chầu đòi hỏi phải đứng ngang hàng với các sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản.  Gặp các công quán, quan địa phương chơi xỏ “chào mừng sứđoàn nam di”, thìnhất định không bước qua, lập luận sắc bén buộc phải tháo gỡ. Khi họđòi hỏi những cống phẩm quái gỡ như nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai, cống người vàng.. phải lập luận có chứng cứ để bãi bỏ. Trước các thắng cảnh di tích các quan địa phương, quan triều đình Trung Quốc  giả vờ xin đề thơ đề bia đá để thử tài, trăm cặp mắt nhìn vào,  các sứ thần nước ta phải hiểu rộng lịch lãm  thi ca các thi hào Trung Quốc, phóng bút đề thơ văn hay, chữ tốt khiến họ khâm phục, để không bị cười  như “một đàn thằng ngọng đứng xem chuông “, do đó thi ca khi đi sứ không phải là chuyện bầu rượu túi thơ, thi sĩ một mình một ngựa đi ngâm vịnh thắng cảnh non sông, mà là những cuộc thi thơ đối mặt thường trực vì văn hóa, sĩ diện danh dự đất nước. Tiếp tục đọc