• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

LƯỢC SỬ TRÍ THỨC TRUNG QUỐC: TỪ QUÁ KHỨ ĐẾN HIỆN TẠI

Giới trí thức Trung Quốc có lịch sử hình thành và phát triển khá thăng trầm. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1949), trí thức đã rơi vào tầm ngắm của Chính phủ và bị kiểm soát chặt chẽ; theo đó, tư duy độc lập cũng như bất đồng quan điểm chính trị không có đất để tồn tại. Tuy nhiên, vượt qua những rào cản khách quan, chủ quan, trí thức Trung Quốc đã có những đóng góp hết sức quan trọng cho công cuộc phục hưng đất nước. Thành công trong quá trình cải cách, mở cửa của Trung Quốc có vai trò không nhỏ của trí thức và tầng lớp này đang có những ảnh hưởng quan trọng đến nhiều chiều cạnh xã hội, nhất là trong việc hình thành nên những trào lưu tư tưởng mới.

1- Trong xã hội Trung Quốc phong kiến, “sĩ” là giai tầng đầu tiên trong bốn giai tầng, đồng nghĩa với “trí thức” và để chỉ những người có học, có chữ nghĩa với đặc trưng là hoạt động trí óc, tạo ra những sản phẩm có ý nghĩa tinh thần – tư tưởng. Hiểu theo một nghĩa truyền thống nhất, “sĩ” là tầng lớp trung gian giữa chính quyền và nhân dân, thể hiện ý chí của trời đất; đồng thời, phản ánh yêu cầu, nguyện vọng, tâm tư, vui buồn, đau khổ… của nhân dân tới chính quyền[1]. Những tinh hoa học vấn, trí tuệ của Trung Quốc phong kiến được sản sinh chủ yếu bởi tầng lớp này. Trong một giới hạn tương đối, “sĩ” được xã hội ưu ái, tôn vinh và trọng vọng. Tiếp tục đọc

Advertisements

Một số truyền thuyết sai lầm về Cao Bá Quát

1- Cao Bá Quát sinh năm nào?

Cao Bá Quát là dân ngụ cư ở Thăng Long nhưng quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Kinh Bắc (Bắc Ninh), cách Hà Nội 17 cây số về phía đông.

Nhiều sách viết về Cao Bá Quát đánh dấu hỏi khi đề cập đến năm sinh của ông, có người phỏng đoán ông sinh năm 1800 nhưng không cho biết dựa vào đâu. Sở Cuồng, Lãng Nhân đều nói ông đỗ Cử nhân năm 14 tuổi. Ai cũng biết ông đỗ khoa 1831, vậy ông sinh năm 1831 – 14 = 1817 ?

Song nếu căn cứ vào bài “Thiên cư thuyết” (Câu chuyện dời nhà) của ông ta có thể tính ra được khá chính xác nhờ hai câu trong bài: “Mùa thu năm ngoái, sau khi chiếm được tên trên bảng, định dời nhà đi nơi khác…” và “Tuổi ta mới ngoài hai kỷ mà núi sông thành quách cũ đã thay đổi ba lần…” (1). Cao Bá Quát “chiếm được tên trên vảng” năm 1831, vậy thì bài “Thiên cư…” đựợc viết vào năm sau tức là 1831+1 = 1832. Lúc ấy Cao Bá Quát “mới ngoài hai kỷ”, mỗi kỷ là 12 năm, “ngoài hai kỷ” tức là 2 x 12 = ngoài 24 tuổi. Vậy thì Cao Bá Quát sinh vào khoảng:

1832 – 24 = 1808 Tiếp tục đọc

BA ĐẶC KHU CẦN TRẢ LỜI BA CÂU HỎI

.
Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo

Dự thảo luật về ba đặc khu kinh tế đang được dư luận quan tâm. Mục đích thành lập 3 đặc khu được ghi nhận là đưa ra các điều kiện vượt trội, hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong các lãnh vực công nghệ cao, hoặc các lãnh vực có nhu cầu cao trên thị trường thế giới, nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Cho đến nay nhiều chuyên gia kinh tế, luật sư và một số dân biểu quốc hội đã nêu nghi vấn về tác động kinh tế của ba đặc khu dự kiến và sự lo ngại về an ninh quốc gia khi cho phép người nước ngoài thuê đất lâu dài. Tôi chia sẻ với nhiều nghi vấn và lo ngại nầy, ở đây muốn phân tích thêm từ vài khía cạnh khác.

Để đánh giá khách quan, trước hết cần đặt ra 3 câu hỏi:

(1) Nhu cầu phát triển sắp tới của đất nước là gì? Các đặc khu có đáp ứng được các nhu cầu đó không? Tiếp tục đọc

Vài lời đáp lại ông Boristo Nguyen(1)

Nguyễn Huệ Chi

Viet-studies  

Nhân đọc bài Thơ văn Lý – Trần – Nghĩ về “tư cách trí thức” (1) của GS. Nguyễn Huệ Chi trên tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh số 502. Đường link mạng của bài báo: http://tuanbaovannghetphcm.vn/tho-van-ly-tran-nghi-ve-tu-cach-tri-thuc-cua-gs-nguyen-hue-chi-so-502/

————————– 

Tôi rất khâm phục ông thưa ông Boristo Nguyen, trong việc ông chuẩn bị rất bài bản bài viết này để hạ nhục tôi sát đất, bằng nhiều cách khôn khéo. Chẳng hạn ngay mở đầu ông đã trình ra mấy lời tôi “tự khoe khoang” làm độc giả mất cảm tình, mà mấy lời đó chỉ là phản ứng tức thời của tôi viết trên Facebook của ông Sơn Kiều Mai nhằm chống lại dụng tâm của ông Sơn Kiều Mai mượn miệng ông Nguyễn Văn Hoàn (không biết thật hay giả) nói những lời mạt sát tôi về tư cách nhà nghiên cứu. Tiếp đó ông trưng một cái hình mập mờ về bản khai lý lịch khoa học của tôi (nhưng lại cố tình ghi ở dưới là bút tích cụ Đào Phương Bình), để bạn đọc nhìn vào tưởng nhầm rằng mấy lời trên là ông trích từ lý lịch tự khai của cá nhân tôi, nhưng do cụ Đào Phương Bình sao chép (nghĩa là bảo đảm rất thật). Lắp hai mảnh ghép khác nhau lại như thế, nếu không phải là khôn khéo thì còn gì nữa, Tiếp tục đọc

Tocqueville bàn về sự chuyên chế trong một nền dân chủ

VI YÊN – 

ALEXIS DE TOCQUEVILLE (1805 – 1859). ẢNH: THE DAILY SIGNAL.

Cách đây gần ba mươi năm, trong cơn hào hứng trước cảnh phương Tây đánh bại gã cộng sản đáng gờm, học giả Francis Fukuyama đã tuyên bố về “sự cáo chung của lịch sử”, rằng đã tới lúc nền dân chủ tự do sẽ chiến thắng nơi nơi.

Song những diễn biến chính trường khó lường ngày nay khiến chúng ta phải suy nghĩ lại: Từ vụ Brexit ở Anh cho tới hiện tượng Donald Trump ở Mỹ, tất thảy đều gây lo lắng về nạn chuyên chế mềm tồn tại trong chính nền dân chủ.

Đúng như câu nói lưu truyền được cho là của Thủ tướng Churchill nước Anh – “dân chủ là dạng thức chính quyền tồi tệ nhất… nếu không tính tới mọi dạng thức khác” – cách đây gần 200 năm, Alexis de Tocqueville trong cuốn Nền dân chủ Mỹ (De la démocratie en Amérique) đã đưa ra một cái nhìn thẳng thắn và trực diện vào những mảng tối ấy:

“Trước đây, những kẻ chuyên chế sử dụng những vũ khí thô sơ như xiềng xích và đao phủ; thì ngày nay nền văn minh đã tinh chế cho hoàn hảo tới cả nền bạo quyền, tưởng như chẳng còn gì để học thêm nữa. Sự chuyên chế trong các xã hội dân chủ đi thẳng vào tâm hồn. Nó nguy hiểm hơn bởi vì nó được che giấu và không thi hành sự ràng buộc đối với thể xác bên ngoài; do đó không ai có thể nhận ra và không ai phản ứng chống lại. Bên cạnh đó, đa số người dân được lợi từ nó nên không ai muốn phản đối nó.” Tiếp tục đọc

Vọng cổ là gì? Cải lương là gì? Cổ nhạc là gì?

Nhạc cổ truyền đối với chúng ta là một loại nhạc xưa được truyền tụng cho tới ngày nay. Tân nhạc là loại nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Có phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói một cách khác, là các bài nhạc được soạn trong khoảng 70 năm nay (từ năm 1930) theo kiểu Tây phương nghĩa là có hòa âm, dùng các nốt nhạc như Do-Re-Mi-Fa-Sol-La-Si-Do mà không dùng Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Líu như trước thời Pháp thuộc? Có những bài ca như Vọng cổ, Tứ Đại Oán, và rất nhiều bài bản được sáng tác cho hát cải lương miền Nam có phải là cổ nhạc hay tân nhạc, vì các bài này được sáng tác từ khoảng đầu thế kỷ thứ 20 trở đi? Vấn đề “Cổ” và “Tân ” hoàn toàn tương đối tùy theo quan niệm, nhận xét của người nghiên cứu.

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử âm nhạc thế giới, thì giai đoạn âm nhạc cận đại của nhạc ngữ Tây phương bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó, ranh giới định rõ cổ và tân nhạc rất là lu mờ. Tiếp tục đọc

Những trạng thái tâm hồn nghệ sĩ

Đinh Quang Tốn

Nhớ và quên là hai trạng thái tâm lý tình cảm bình thường của con người. Nhớ hay quên do rất nhiều yếu tố tự nhiên hợp thành, thường rất khó tác động. Không thể cố gắng mà nhớ, cũng không thể cố mà quên được, mà đôi khi còn ngược lại. Văn chương cổ kim Đông Tây đã biểu đạt hai trạng thái tình cảm này của con người rất sâu sắc.

Nhớ và quên

Từ ngàn xưa, những người dân bình thường đã gửi nỗi nhớ của mình trong những câu ca dao: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!”. Đó là tình cảm chân thành mộc mạc mà da diết bởi nó gắn với những kỷ niệm nghèo khó, vất vả. Từ bảy thế kỷ trước, ông quan Nguyễn Trung Ngạn trên đường đi sứ đã có nỗi nhớ quê hương điển hình đi vào lịch sử đời sống tinh thần của dân tộc trong bài thơ “Quy hứng”: “Dâu già lá rụng tằm vừa chín/ Lúa sớm bông thơm cua béo ghê/ Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt/ Dẫu vui đất khách chẳng bằng về!”. Nỗi nhớ ấy quan trọng vô cùng đối với một con người. Thậm chí có nhà thơ đã khái quát đó là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá một con người: “Quê hương, nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” (Đỗ Trung Quân). Tiếp tục đọc