• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Thư giãn: THÁI BÌNH

.

Lời khúc hát:

Thái Bình

Thái Bình là đất ăn chơi
Tay nghiên tay bút khắp nơi tung hoành
Tung hoành lên tận mây xanh
Ngọc Hoàng phán hỏi quý anh tỉnh nào?
Nam Tào,Bắc Đẩu xông vào 
Thái Bình anh ở huyện nào đấy anh?
Từ biển rộng đến trời xanh
Loanh quanh toàn gặp các anh Thái Bình
Phạm Tuân bay tới thiên đình
Ngọc Hoàng phán bảo chúng mình cùng quê  Tiếp tục đọc

Advertisements

Hát nói, thời điểm hình thành và quá trình phát triển

NGUYỄN ĐỨC MẬU

Hát nói, thời điểm hình thành và quá trình phát triển

Hát nói là thể loại thơ ngắn duy nhất mà lịch sử văn học Việt Nam sáng tạo được. Các thể lục bát, song thất lục bát chưa thành thể loại, nhưng nhờ các thể đó đã tạo nên truyện nôm và ngâm khúc. Bộ ba thể loại: ngâm khúc( đỉnh cao làCung oán ngâm Chinh phụ ngâm), truyện nôm( đỉnh cao là Truyện Kiều), hát nói (đỉnh cao là nói Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,..) là những công tích lịch sử văn học, đã tạo nên những điển phạm cho văn học Việt Nam trung đại. Ba thể loại đó hình thành và phát triển thành đỉnh cao vào giai đoạn thế kỷ XVIII- XIX, gắn liền với quá trình con người cá nhân hướng đến đấu tranh cho hạnh phúc, tự do.

1. Các điều kiện xuất hiện hát nói

Các khái niệm hát ca trù, hát ả đào, hát thẻ, hát cửa đình, hát nhà trò, hát cửa quyền, hát nhà tơ, hát ca công,.. đều bao gồm trong nó rất nhiều điệu hát, trong đó có hát nói. Hát nói là tên gọi phổ biến nhất, ngoài ra nhiều người còn gọi nó bằng các tên như nói nôm, điệu xướng ca, bài ca quốc âm, hát quốc âm. Hát nói chỉ là một trong rất nhiều điệu của ca trù và trong ca trù chỉ hát nói mới được sáng tác và nghiên cứu với tư cách là một thể loại văn học. Có thể do được sáng tác nhiều nhất và là một điệu hát quan trọng, một điệu hát chính, nên trong các hợp tuyển, tuyển tập và ở nhiều công trình nghiên cứu, hát nói nhiều khi được thay thế bằng các khái niệm: ca trù, ả đào, cửa đình. Tiếp tục đọc

Đừng xô nhau giữa chiêm bao

Nguyễn Duy Nhiên

.

Ông giải thích ý mình, “Tuy là do cảm hứng bắt nguồn từ câu kinh, nhưng nó không nương tựa gì câu kinh cả. Tôi muốn nói, sống trong cuộc đời, ta đừng nuôi thù hận, đừng có ác ý trong cuộc tình. Đừng để trong tình thương có bóng dáng thù địch, của lòng sân hận. Sóng xô ta, ta xô lại sóng. Biết bao giờ mới đến được bờ bên kia của tịch lặng, của bình an!” Tiếp tục đọc

Vọng cổ là gì? Cải lương là gì? Cổ nhạc là gì?

Nhạc cổ truyền đối với chúng ta là một loại nhạc xưa được truyền tụng cho tới ngày nay. Tân nhạc là loại nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Có phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói một cách khác, là các bài nhạc được soạn trong khoảng 70 năm nay (từ năm 1930) theo kiểu Tây phương nghĩa là có hòa âm, dùng các nốt nhạc như Do-Re-Mi-Fa-Sol-La-Si-Do mà không dùng Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Líu như trước thời Pháp thuộc? Có những bài ca như Vọng cổ, Tứ Đại Oán, và rất nhiều bài bản được sáng tác cho hát cải lương miền Nam có phải là cổ nhạc hay tân nhạc, vì các bài này được sáng tác từ khoảng đầu thế kỷ thứ 20 trở đi? Vấn đề “Cổ” và “Tân ” hoàn toàn tương đối tùy theo quan niệm, nhận xét của người nghiên cứu.

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử âm nhạc thế giới, thì giai đoạn âm nhạc cận đại của nhạc ngữ Tây phương bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó, ranh giới định rõ cổ và tân nhạc rất là lu mờ. Tiếp tục đọc

Kỹ nghệ âm nhạc

Nguyễn Cường: “Có ca sĩ hát sai lời, tôi phải… cảm ơn!”

Vì sao nhạc sĩ lại chọn “Tùng Dương hát Nguyễn Cường” mà không phải ca sĩ nào khác?

Thực hiện album nhạc rock “Tùng Dương hát Nguyễn Cường” là ý tưởng của cả hai người. Khi nghe Tùng Dương hát “Hò biển”, tôi thấy mình đã tìm được người tri âm tri kỷ.

Nhắc đến nhạc Nguyễn Cường, người ta nhớ đến giọng hát Y Moan, Siu Black…, vậy ông tìm thấy điểm gì đặc biệt ở giọng hát Tùng Dương? Tiếp tục đọc

Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn

John C. Schafer Nghe nhạc Trịnh Công SÆ¡n đối với nhiều người Việt cÅ©ng gần giống nhÆ° nghe một câu kinh...

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh…

Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống.
.

Đạo Phật đến với Ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.

Trịnh Công Sơn có viết: “Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được”. Bài này sẽ trình bày rằng thứ “triết học nhẹ nhàng” này chính là triết học Phật giáo.

Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá . . . trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi. Tiếp tục đọc