• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

  • Advertisements

Về việc tăng thuế bảo vệ môi trường do bộ tài chính đề xuất

(CN) – Giá mà bộ tài chính bỏ công suy nghĩ, hiến được kế sách gì đó nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho dân chúng và quốc gia nhỉ?

—————————-

Bộ Tài chính quyết tăng kịch khung thuế bảo vệ môi trường xăng dầu

Dân trí – Cụ thể, mức thuế đối bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng được Bộ Tài chính đề nghị mức kịch trần là 4.000 đồng mỗi lít, tăng 1.000 đồng so với hiện hành. Còn mặt hàng dầu là 2.000 đồng mỗi lít, tăng 1.100-1.700 đồng/lít so với mức hiện hành.

>> Bộ Tài chính: Thuế bảo vệ môi trường thu không đủ bù chi
 >> Tăng thuế bảo vệ môi trường là đẩy gánh nặng thu ngân sách lên vai người nghèo
 >> Khó tránh tăng thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu

 Tổng số thuế bảo vệ môi trường dự kiến thu sẽ vào khoảng 57.612 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 15.189 tỷ đồng/năm nếu thuế môi trường với xăng dầu tăng kịch khung

Tổng số thuế bảo vệ môi trường dự kiến thu sẽ vào khoảng 57.612 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 15.189 tỷ đồng/năm nếu thuế môi trường với xăng dầu tăng kịch khung

Bộ Tài chính: Nhất thiết phải tăng thuế bảo vệ môi trường

Tờ trình dự thảo Nghị quyết về biểu thuế bảo vệ môi trường mới nhất này vừa được người đứng đầu ngành Tài chính – ông Đinh Tiến Dũng ký và vừa gửi tới Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Bộ Tài chính, thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu được thực hiện từ năm 2012 đã phát huy được những hiệu quả đáng kể như: Nâng cao trách nhiệm và nhận thức của xã hội đối với môi trường, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hoá, đáp ứng yêu cầu phát triển bên vững; đồng thời đảm bảo lợi ích quốc gia trong điều kiện hội nhập sâu khi thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế.

“Dòng thuế này cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Cụ thể, giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017, tổng số thu từ thuế bảo vệ môi trường vào khoảng trên 150.000 tỷ đồng, bình quân hơn 25.000 tỷ đồng mỗi năm”, Bộ Tài chính nêu.

Dù vậy, Bộ Tài chính vẫn bảo lưu quan điểm rằng, bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của đất nước, nhất thiết phải nghiên cứu điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường lên mức phù hợp. Bởi, giá bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam cơ bản đang thấp hơn so với các nước có chung đường biên giới và một số nước trong khối ASEAN và châu Á. Hiện, giá bán lẻ xăng dầu của Việt Nam đứng vị trí 47 từ thấp đến cao trong tổng số 167 quốc gia và thấp hơn 120 nước, với mức 19.980 đồng/lít.

“Các nghiên cứu cho thấy hàng hoá thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường như xăng, dầu, mỡ nhờn, than đá, túi nilon… trong quá trình sử dụng gây tác động ấu đến môi trường. Và cũng theo tính toán của các nhà khoa học, để trả lại môi trường thì thuế đối với các mặt hàng kể trên phải được điều chỉnh cao hơn rất nhiều”, Bộ Tài chính lập luận.

Để bảo lưu quan điểm đánh thuế cao của mình, tờ trình do Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng ký cũng dẫn ra một số liệu thống kê được Bộ lấy ý kiến rộng rãi trên Cổng thông điện tử của ngành. Cụ thể, trong tổng số 77 ý kiến tham gia góp ý thì có 19 ý kiến của các bộ ngành, 43 ý kiến của các địa phương, 5 ý kiến của các hiệp hội và doanh nghiệp, tổ chức khác.

Về cơ bản, theo Bộ Tài chính, các ý kiến đều nhất trí với sự cần thiết về nội dung của dự thảo. Trong đó, 47/77 ý kiến nhất trí hoàn toàn. Các ý kiến còn lại cũng được Bộ giải trình, tiếp thu…

Tăng kịch khung thuế, thu thêm hàng tỷ USD

Theo tính toán của Bộ Tài chính, nếu thuế bảo vệ môi trường đối với xăng được tăng kịch khung từ mức 3.000 đồng/lít lên 4.000 đồng/lít, các mặt hàng dầu tăng kịch khung lên mức 2.000 đồng/lít, số thu từ dòng thuế này sẽ vào khoảng trên 55.000 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 14.368 tỷ đồng/năm.

Ngoài xăng dầu, một số mặt hàng khác như than đá, dung dịch HCFC, túi nilon, cũng được Bộ Tài chính đề xuất tăng thêm từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng, tuỳ loại.

Cụ thể, đối với than đá, mức tăng dự kiến thêm 5.000 đồng đến 10.000 đồng/tấn. Tổng số thu mà Bộ Tài chính nhẩm tính sau khi tăng thuế đối với mặt hàng này sẽ vào khoảng 2.385 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 795 tỷ đồng/năm.

Đối với mặt hàng túi nilon, với đề xuất tăng 10.000 đồng mỗi kg (từ 40.000 đồng/kg lên 50.000 đồng/kg), tổng số thu sẽ vào khoảng 67,5 tỷ đồng, tăng khoảng 13,5 tỷ đồng/năm. Đối với mặt hàng dung dịch, với đề xuất tăng 1.000 đồng mỗi kg (từ 4.000 đồng/kg lên 5.000 đồng/kg), tổng số thu sẽ vào khoảng 63,5 tỷ đồng, tăng khoảng 12,7 tỷ đồng/năm.

Theo Bộ Tài chính, nếu phương án được tăng qua, tổng số thuế bảo vệ môi trường dự kiến thu sẽ vào khoảng 57.612 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 15.189 tỷ đồng/năm.

Đây không phải là lần đầu tiên, Bộ Tài chính đưa ra phương án tăng kịch trần khung thế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu. Và lần nào đưa ra, Bộ Tài chính cũng bị phản đối kịch liệt. Các ý kiến phản đối đều cho rằng mức thuế tăng rất vô lý.

Bên cạnh đó, các lý lẽ về phương án thuế của Bộ Tài chính là bảo vệ môi trường hầu như cũng không được chấp nhận. Bởi, mặt hàng này đã áp dụng mức thuế khá cao từ thời điểm năm 2012. Thế nhưng, cuối tháng 11/2017, Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) vẫn xếp Việt Nam là một trong những quốc gia có tình trạng ô nhiễm không khí hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

Còn, giữa tháng 2/2018, trang web Aqicn.org (Mỹ) – nơi cung cấp số liệu ô nhiễm không khí các thành phố trên thế giới theo từng giờ – cho biết chỉ số bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội lên tới 256 – tức có 256 hạt bụi PM2.5 trong 1m3 không khí. Đây là mức rất không tốt, cảnh báo tình trạng ô nhiễm khẩn cấp tới tất cả mọi nhóm người. Cùng thời điểm, chỉ số chất lượng không khí (AQI) tại Bangkok (Thái Lan) là 186, tại Jakarta (Indonesia) là 165. TP HCM – thành phố lớn nhất Việt Nam có chỉ số AQI là 169. Cả ba thành phố đều nằm trong mức không tốt đối với tất cả mọi nhóm người.

Chỉ số AQI tại Hà Nội đo vào một năm trước (tháng 1/2017) là 156 – tức là có 156 hạt bụi PM2.5 trong 1m3 không khí, mức không tốt cho tất cả mọi người, bao gồm cả người khỏe mạnh và người có vấn đề về hô hấp.

Vấn đề đặt ra là, không phải mức thuế mà Bộ Tài chính định tăng với xăng dầu lên bao nhiêu, mà ở việc số tiền thuế tăng thực sự được chi dùng vào đâu. Không phải ở con số hàng nghìn tỷ đồng được chi vào các dự án môi trường như thế nào, mà ở việc môi trường thực sự đã, đang và sẽ được bảo vệ ra sao. ..

H.Anh

Nguồn: DT

———————–

“Tăng thuế trở thành giải pháp như cách người ta hút dầu để tăng GDP”

 >> Tăng thuế giá trị gia tăng vì thuế thấp người giàu hưởng lợi nhiều hơn?
 >> Đòi đánh thuế nhà dân, lại muốn tăng thuế đất gấp nhiều lần
 >> Dân phản đối tăng thuế môi trường xăng dầu vì thiếu minh bạch

Cử tri kiến nghị cân nhắc bởi việc tăng thuế vào thời điểm hiện nay là không phù hợp.
Cử tri kiến nghị cân nhắc bởi việc tăng thuế vào thời điểm hiện nay là không phù hợp.
.

Cử tri lo gánh nặng thuế

Trong kiến nghị gửi lên Quốc hội, cử tri các tỉnh, thành phố Hậu Giang, Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, TPHCM, Bình Dương, Thái Bình cho biết, qua các phương tiện thông tin đại chúng cử tri được biết Bộ Tài chính đã công bố định hướng sửa đổi, bổ sung 5 dự án luật về thuế, với đề xuất tăng mức thu: từ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đến thuế giá trị gia tăng (VAT)…

Lý do đề xuất tăng thuế GTGT, Bộ Tài chính cho rằng mức thuế giá trị gia tăng hiện tại 10% là tương đối thấp, không phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn của nền tài chính quốc gia.

Tuy nhiên, cử tri kiến nghị cân nhắc bởi việc tăng thuế vào thời điểm hiện nay là không phù hợp, vì người tiêu dùng bất kể thu nhập cao hay thấp đều phải đóng cùng một mức thuế giá trị gia tăng cho cùng một sản phẩm chịu thuế.

“Do vậy, gánh nặng thuế đối với mặt hàng tiêu dùng luôn chiếm một tỷ trọng cao hơn trong thu nhập của người thu nhập thấp. Đề nghị Chính phủ cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong việc thực hiện Luật thuế Gía trị gia tăng nhằm tránh thất thoát ngân sách nhà nước đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng”, cử tri kiến nghị.

Bộ Tài chính: Thuế suất VAT thấp hơn nhiều nước

Trả lời kiến nghị của cử tri, Bộ Tài chính cho biết, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu sụt giảm nhanh nên tỷ lệ huy động cho ngân sách nhà nước (NSNN) từ thuế, phí cũng giảm nhanh, và sự sụt giảm trong nguồn thu này đang được bù đắp bởi nợ công.

Theo Bộ Tài chính, trên thế giới, trình trạng nợ công tăng cao khiến các nước, kể cả các nước phát triển, tiến hành cơ cấu lại thu NSNN theo hướng tăng cường nguồn thu từ thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt) để bù đắp.

Về mức thuế suất, Bộ Tài chính dẫn thống kê mức thuế suất thuế giá trị gia tăng của 112 nước, có 88 nước có mức thuế suất từ 12% đến 25% (trong đó 56 nước có mức thuế suất từ 17% đến 25%), còn lại 24 nước phổ biến ở mức hơn 10%.

“Thuế suất thuế giá trị gia tăng trung bình toàn cầu là 16%; ở Châu Á là 10,9%; Liên minh Châu Âu là 21,5%; Trung Âu và Nga là 18,6%; Châu Mỹ là 14%. Thuế suất thuế ở Việt Nam hiện thấp hơn mức trung bình của khu vực và thế giới”, Bộ Tài chính cho biết.

Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất lộ trình tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng từ mức 10% lên mức 11% vào năm 2019 và tăng lên mức 12% vào năm 2020.

Bộ Tài chính cho biết, theo Ngân hàng thế giới, đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng lên 12% sẽ tăng chỉ số CPI một lần trong khoảng 0,06-0,39% do đó lạm phát do tăng CPI ở mức thấp này không phải là vấn đề đáng lo ngại. Tuy nhiên, nếu duy trì thuế suất thuế giá trị gia tăng thấp sẽ mang lại lợi ích cho người giàu nhiều hơn người nghèo vì 20% hộ gia đình nghèo nhất chỉ trả khoảng 9% tổng số thu thuế giá trị gia tăng.

“Trong khi đó, 20% hộ gia đình giàu nhất trả gần 40% tổng số thu thuế giá trị gia tăng. Điều này có nghĩa là nếu một hộ nghèo tiết kiệm được trung bình 10.000 đồng do thuế suất thuế giá trị gia tăng thấp thì hộ giàu tiết kiệm được 40.000 đồng. Vì vậy, thuế suất thuế giá trị gia tăng thấp sẽ mang lại lợi ích cho người giàu nhiều hơn người nghèo”, báo cáo nêu.

Còn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với đề xuất tăng 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng sẽ tác động tăng chỉ số giá lên 2,28% và giảm mức tăng trưởng GDP 0,5%.

Bộ Tài chính thấy rằng, để giảm tác động của việc tăng thuế đến người có thu nhập thấp thì Chính phủ cần tiếp tục chi hỗ trợ về an sinh, xã hội như: Chi cho giáo dục, y tế, chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,… để số tiền thu thuế giá trị gia tăng tăng thêm có thể đem lại lợi ích nhiều hơn so với số tiền thuế họ phải trả thêm.

“Hoàn cảnh khác nhau thì không thể so sánh”

Bình luận về đề xuất tăng thuế VAT, PGS, TS Ngô Trí Long cho rằng, khi hoàn cảnh khác nhau thì không thể so sánh thuế VAT giữa các nước, và vin vào lý do đó để tăng thuế ở Việt Nam.

Theo ông Long, nếu như để so sánh vai trò của VAT đã sử dụng ở EU và Ở Việt Nam cho thấy về y tế, chế độ bảo hiểm giúp người bệnh được nhận dịch vụ chăm sóc ưu việt và đúng trách nhiệm. Còn Việt Nam khi đi khám chữa bệnh đa số phải khám dịch vụ vì bảo hiểm luôn bị khó khăn, viện phí cũng vừa có đợt tăng. Hay ở EU, người nông dân khi canh tác nông nghiệp được hỗ trợ; nếu nuôi dưỡng súc vật sẽ được hỗ trợ, Việt Nam chưa có sự hỗ trợ này. Tại Nhật Bản, giáo dục miễn phí đến hết cấp phổ thông.

Xét về tỷ trọng, đóng góp của VAT trong tổng thu ngân sách của Việt Nam với thuế suất VAT phổ thông hiện nay là 10%, VAT đã chiếm tới 27,5% tổng thu ngân sách. Trong khi đó, với mức thuế suất trung bình EU cao hơn hẳn Việt Nam song VAT cũng chỉ chiếm trung bình 21,4% tổng thu ngân sách của các nước này.

Vị chuyên gia thẳng thắn cho rằng, nguồn gốc của nợ công và thâm hụt ngân sách triền miên ở Việt Nam không phải do việc huy động nguồn thu thuế thấp trong ngân sách, mà chính là do tham nhũng, thất thoát, lãng phí, kỷ luật tài chính không nghiêm, đầu tư sai, hoặc đầu tư vì lợi ích nhóm chứ không phải vì cộng đồng hay sự phát triển đất nước.

Điều này dẫn đến, khi ngân sách bị eo hẹp bởi sự lãng phí của dự án cũ, trong khi cần đối phó với tính cấp thiết của dự án mới, Bộ Tài chính đứng trước sức ép phải có đủ nguồn thu để đảm bảo chi.

“Tăng thuế trở thành một giải pháp, như cách người ta hút dầu để tăng GDP”, ông Long bày tỏ và khẳng định nếu không giải quyết cái gốc của vấn đề nằm ở chi tiêu không hiệu quả, tham nhũng, lãng phí, đầu tư sai…. thì dù có tăng lên 12% hay gấp đôi đi nữa, thu ngân sách dù có phình to ra cũng khó mà đảm bảo được cân đối ngân sách nhà nước.

TS Ngô Trí Long khẳng định, thuế VAT là thuế tiêu dùng, bất kể thu nhập cao hay thấp, đều phải đóng cùng một mức thuế VAT cho cùng một sản phẩm chịu thuế. Tuy nhiên, thuế VAT có tính “lũy thoái” đánh vào người thu nhập thấp chịu nặng nề hơn.

“Dưới góc độ công bằng, tăng thuế VAT sẽ làm tổn thương và tạo áp lực nhiều hơn đối với người có thu nhập thấp, do vậy chưa thực hiện sự công bằng, và chính sách an sinh xã hội. Trong một nền kinh tế khó khăn, chúng ta cần khoan thứ sức dân để làm kế bền gốc, đó là thượng sách tạo động lực cho sự phát triển bền vững, chúng ta không nên chọn phương án khiến người dân phải thêm căng mình đóng thuế”, ông nhận định.

Phương Dung

Nguồn: DT

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: