• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

VŨ TRỤ VẠN VẬT VÀ NHÂN SINH

Mô tả của Khoa Học

Cuộc sống của con người trên thế gian gọi là nhân sinh. Cuộc sống diễn ra trên quả Địa cầu là hành tinh thứ ba của Thái dương hệ. Hệ mặt trời của chúng ta nằm trong thiên hà gọi là dải Ngân Hà tiếng Anh gọi là Milky Way hay còn gọi là Galaxy. Ngân Hà thì nằm trong Vũ Trụ mênh mông có đường kính khoảng 156 tỷ quang niên. Một quang niên bằng 9.460. 800.000.000 (chín ngàn bốn trăm sáu chục tỷ tám trăm triệu) km. Người ta tính cách nào để ra con số 156 tỷ quang niên ? Dựa vào tuổi của các vì sao và sự giãn nở của vũ trụ, các nhà khoa học xác định được tuổi của vũ trụ là 13,7 tỷ năm. Điều đó có nghĩa là một bức xạ phát ra từ “vũ trụ sơ khai” (lúc xảy ra vụ nổ Big Bang hình thành vũ trụ) đã đi được 13,7 tỷ năm. Theo tính toán, với tốc độ giãn nỡ của vũ trụ, 1 photon di chuyển trong 13,7 tỷ năm đang cách vị trí xuất phát của nó 78 tỉ năm ánh sáng. (bán kính của vũ trụ). Như vậy đường kính vũ trụ là 156 tỷ quang niên.

Con người bao gồm thân thể tứ đại của mỗi người, cùng với chim muông cầm thú, cây cối hoa cỏ, thủy hải sản, côn trùng, sơn hà đại địa, hành tinh, các vì sao, các hệ mặt trời, các thiên hà, các hố đen, các thiên thể trong vũ trụ, gọi chung là vũ trụ vạn vật.

Năm 1859 Charles Darwin xuất bản cuốn sách Nguồn Gốc Muôn Loài (On the Origin of Species) trong đó tác giả đưa ra thuyết Sinh vật tiến hóa. Ông là người đầu tiên dùng khái nhiệm biến dị cá thể để chỉ sự phát sinh những đặc điểm sai khác giữa các cá thể cùng loài trong quá trình sinh sản. Về nguồn gốc của sinh vật, ông cho rằng do sự tương tác ngẫu nhiên mà các nguyên tố C, H, O, N đã kết hợp thành acid amin là chất sống cơ bản đầu tiên của sinh vật. Nhà khoa học xuất sắc của Nga tên Dimitri Ivanovich Mendelev, một trong nhóm 6 nhà khoa học nghiên cứu về các nguyên tố hóa học, đã giới thiệu bảng tuần hoàn trong những năm 1860. Nhưng trước đó một nhà khoa học khác cũng trong nhóm 6 người này, một nhà địa chất học người Pháp tên Alexandre Emile Béguyer de Chancourtois đã khám phá ra bản chất hệ thống các nguyên tố hóa học, nhưng nhà xuất bản đã không thể in ấn sơ đồ bảng tuần hoàn phức tạp mà ông đã gửi kèm cùng bài viết. Kết quả là ông de Chancourtois chỉ có chút danh tiếng và nhiều người đã không biết đến ông.

Phân tử chất sống cơ bản Acid Amin

Cấu trúc chung của một phân tử acid amin, với nhóm amin (-NH2) ở bên trái và nhóm acid cacbonxylic (-COOH) ở bên phải, cùng với một nhóm thay thế R (Replace). Nhóm R tùy vào từng acid amin cụ thể. Các nguyên tố chính của acid amin là carbon, hydro, oxy, và nitro, và một số nguyên tố khác có mặt trong nhóm thay thế của từng acid amin.

Acid amin tạo ra sinh vật đơn bào giản dị. Do sự tiến hóa và biến dị, sinh vật đơn bào phát triển thành sinh vật đa bào, rồi phát triển tiếp trong hàng tỷ năm để thành sinh vật biển như cá tôm, rồi thành con thú, con vượn và cuối cùng thành con người với đời sống vô cùng phong phú như hiện nay.

Nhưng ngày nay, trong thế kỷ 21, thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin bị chỉ trích rất nhiều vì thiếu cơ sở khoa học với các lý do sau :

Xác xuất để các nguyên tố C, H, O, N ngẫu nhiên kết hợp thành acid amin tức chất sống đầu tiên là bằng 0 nghĩa là chẳng bao giờ xảy ra. Điều đó cũng giống như một đứa trẻ ngô nghê viết ngẫu nhiên bậy bạ không bao giờ tạo ra được một chương trình tin học hoàn chỉnh, một application cho smartphone chẳng hạn.

Sự kiện các vi khuẩn đơn bào tiến hóa thành những tế bào lớn hơn và phức tạp hơn chúng gấp trăm lần là một câu chuyện huyền thoại không có trong thực tế.

Các hóa thạch của sinh vật như con gián, con dế chứng tỏ không hề có biến dị qua hàng trăm triệu năm, tức là không có sự tiến hóa.

Người ta không tìm thấy hóa thạch các giai đoạn trung gian từ con vượn biến dị dần dần thành con người.

Kết luận rút ra là thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin chỉ là một giả thuyết hoang đường không đúng thực tế, không thể chứng minh được.

Nói chung mô tả của khoa học về vũ trụ vạn vật và nhân sinh đại khái là như thế. Nhưng các nhà tôn giáo, chẳng hạn Kinh Thánh Thiên Chúa Giáo và Kinh điển Phật Giáo thì mô tả khác. Bên Đạo Thiên Chúa có thuyết Sáng Thế nghĩa là Đức Chúa Trời tạo ra Vũ trụ van vật. Còn bên Phật giáo thì nói rằng Nhất thiết duy Tâm tạo, nghĩa là Tâm tạo ra Vũ trụ vạn vật và nhân sinh. Trong bài này, tôi sẽ chủ yếu nói về vũ trụ vạn vật và nhân sinh theo mô tả của Phật giáo.

Phật giáo nói thế nào về vũ trụ vạn vật ?

Cái mà con người gọi là vũ trụ, chỉ là một phần nhỏ trong thế giới quan Phật giáo, kinh điển nói tới Tam giới là một khái niệm rộng lớn hơn vũ trụ vật chất của con người rất nhiều. Kinh điển PG đề cập Tam thiên đại thiên thế giới, nghĩa là một đại thiên thế giới gồm có một ngàn trung thiên thế giới, một trung thiên thế giới thì có một ngàn tiểu thiên thế giới, một tiểu thiên thế giới thì có một ngàn thế giới. Một thế giới là một hệ mặt trời trong đó có ít nhất một hành tinh có sự sống, ví dụ như Thái dương hệ của chúng ta là một thế giới. Vậy một Đại thiên thế giới bao gồm 10003 (một ngàn lũy thừa 3 thế giới), đó chính là mô tả về vũ trụ vật lý của chúng ta. Nhưng Tam giới bao gồm Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới, lại còn rộng lớn hơn nữa, đại khái như sau :

74/ NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

Kinh điển Đại Thừa Phật giáo mô tả thế giới, nhân sinh chỉ là tưởng tượng, không có thật, gọi là thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng phổ biến đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp, thành tập quán. Chính cái tập quán đó, PG gọi là tập khí, đã được thay thế vào một cấu trúc ảo gọi là vô thủy vô minh, để thành vũ trụ vạn vật và nhân sinh, chứ nó không có thực chất.

Nguồn gốc của vũ trụ vạn vật là Tâm với 8 thức bao gồm lục căn, lục trần và lục thức gọi chung là 18 giới trong đó ý thức thống lĩnh 18 giới, phân biệt ra đủ thứ vật, đủ thứ cảnh giới. Nói chung vũ trụ vạn vật chỉ là thức, tức là thông tin, là một loại sóng vô hình không có thực thể, không thể khẳng định là Có, cũng không thể khẳng định là Không. Đối với một cá thể chúng sinh thì tất cả thông tin về cá thể đó được chứa trong một cái kho vô hình gọi là Mạt-na thức (Manas). Thông tin về tất cả chúng sinh khác, về phần còn lại của vũ trụ được chứa trong cái kho vô cùng lớn gọi là A-lại-da thức (Alaya). Alaya tất nhiên bao gồm tất cả Manas nghĩa là bao trùm cả 18 giới của tất cả Manas. Alaya cũng là một tên gọi khác của Tâm. Như vậy Manas tức là ngã và ngã sở của một chúng sinh. Còn Alaya là nguồn gốc của tất cả Manas, của toàn bộ vũ trụ vạn vật.

Bản chất của Alaya là sóng vô hình chứa đựng toàn bộ thông tin của vũ trụ vạn vật và nhân sinh, nó không có hình tướng, cũng không có nghĩa lý gì cả, không có không gian cũng không có thời gian, không có số lượng. Nhưng khi một chúng sinh, chẳng hạn một con người, khởi lên nhất niệm vô minh, nó liền thay thế tập khí tập quán của mình vào sóng vô hình đó, thì tức khắc sóng biến thành hạt, thành vật chất, có số lượng, có vị trí trong không gian và thời gian, có hình tướng, có màu sắc, có hương vị, có đủ các đặc tính mềm cứng trơn nhám của vật chất. Điều này đã được khoa học chứng tỏ rõ ràng trong thí nghiệm hai khe hở.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cuộc tranh luận cực kỳ quan trọng, cực kỳ cơ bản về các đặc trưng của vật chất giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein trong thế kỷ 20 cũng đã kết thúc với phần đúng nghiêng về Bohr, kết quả của cuộc tranh luận này đã đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa duy vật khách quan, nó chứng tỏ vật chất là chủ quan chứ không phải khách quan, một điều mà Kurt Gödel, (1906-1978) nhà toán học người Áo  đã nhận định trong thập niên 1930 : Chủ nghĩa duy vật là sai lầm (Materialism is false). Đến năm 1982, sau khi Gödel đã qua đời, nhận định này đã được Alain Aspect chứng minh tại Paris trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement).

Chủ nghĩa duy vật là sai lầm theo nhận định của giới khoa học hàng đầu thế giới hiện nay : Materialism claims that everything is physical; everything can be exhaustively described and explained in principle by physics. For over half a century, challenges to materialism have focused on mental phenomena such as consciousness, reason, and value. … But there is reason to think that this assumption is false. (Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng tất cả mọi thứ đều là vật chất; mọi thứ đều có thể được mô tả và giải thích một cách tường tận trong nguyên lý của vật lý học. Trong hơn nửa thế kỷ, các thách thức đối với chủ nghĩa duy vật đã tập trung vào những hiện tượng tâm linh như ý thức, lý lẽ và giá trị. … Nhưng có lý do để nghĩ rằng nhận định này là sai lầm.)  Đó là nhận định của William Jaworski trong bài viết công bố ngày 16-02-2016 trên tạp chí Triết học (The Philosophy) của Viện Triết học Hoàng gia (The Royal Institute of Philosophy- Anh Quốc).

Tại sao chủ nghĩa duy vật là sai lầm ?

Thứ nhất, vật chất không khách quan. Thí nghiệm hai khe hở cho thấy rõ hạt electron chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc thiết bị theo dõi, chính người hay thiết bị này đã thay thế ý thức (của con người) hay sóng (phát ra từ sensor, tức bộ cảm biến của thiết bị) khiến cho electron từ dạng sóng vô hình biến thành dạng hạt hữu hình. Đó chính là cách mà vật chất xuất hiện, từ không biến thành có. Nếu không có người hay thiết bị quan sát, thì electron chỉ là sóng vô hình, không phải là vật chất, chỉ là Không (emptiness) mà thôi.

Khi electron là sóng vô hình, nó vô sở trụ (non locality) kể cả về mặt không gian và thời gian. Điều này thì người bình thường chúng ta ngày nay có thể dễ dàng trải nghiệm với chiếc smartphone của mình. Các thông tin trên internet hiện diện khắp mọi nơi, mọi lúc.

Chỉ khi electron trở thành hạt hữu hình thì nó xuất hiện trên màn hình điện thoại dưới dạng chữ viết (text), âm thanh (audio), hình ảnh (images) hoặc phim (video).

Điều đó chứng tỏ vật chất (hạt electron, hạt photon) chỉ là thức (conciousness) tức là một dạng thông tin, chính “thức” làm cho sóng vô hình biến thành hạt vật chất hữu hình. PG mô tả cái thức đó chính là nhất niệm vô minh xuất phát từ bộ não.

Thứ hai, vật chất không có sẵn đặc trưng. Thí nghiệm liên kết lượng tử của Alain Aspect năm 1982 tại Paris chứng tỏ rằng Einstein đã sai lầm khi cho rằng hạt photon hay hạt electron luôn luôn có sẵn những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Những đặc trưng này thật ra không có sẵn và chỉ xuất hiện khi có người quan sát, đo đạc. Như vậy chính hành vi quan sát, đo đạc, làm phát sinh hạt electron với các đặc trưng mà người ta đã đo đạc. Hay nói cách khác, chính nhất niệm vô minh làm phát sinh vật chất, nghĩa là vật chất là do tâm tạo. Nếu không có ai quan sát thì hạt electron chỉ là sóng vô hình và không phải là vật chất.

Tại sao sóng tiềm năng (nói tiềm năng là bởi vì nó chưa thành hiện thực của hạt) của photon hoặc electron không phải là vật chất ? Bởi vì sóng đó là vô hình, là thông tin, là ý thức, là tinh thần, là tâm, chứ không phải là vật chất. Chính loại sóng vô hình đó mới là nền tảng của vũ trụ vạn vật và nhân sinh chứ không phải các hạt cơ bản của vật chất là nền tảng. Các hạt cơ bản (elementary particles) thực ra không có thực chất, bản chất của chúng chính là sóng vô hình, là thông tin, là ý thức, là tinh thần. Nói một cách rõ ràng hơn nữa, 18 loại hạt cơ bản của mô hình chuẩn vật lý hạt hiện đại chỉ là hạt ảo, không có thực chất, chúng chỉ trở thành vật chất cứng, đặc, rắn chắc với nhiều đặc trưng khác khi bị quan sát, bị đo đạc. Tất cả mọi đặc điểm, mọi cảnh giới vật chất chỉ là tưởng tượng của tâm bao gồm 8 thức đã trình bày ở trên.

Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton). Trong mô hình này còn thiếu hạt graviton là hạt mới được khám phá năm 2016.

Nếu không có “thức” thì các hạt cơ bản chỉ là trừu tượng, như Bohr đã nhận định : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Các hạt cơ bản của vật chất cũng như cấu trúc nguyên tử, phân tử của chúng chỉ là Tánh Không như Phật giáo đã thuyết trong Bát Nhã Tâm Kinh. Video sau đây là nhận định của các nhà vật lý học hiện đại.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Thứ ba, vật chất không có vị trí nhất định. Thí nghiệm về liên kết lượng tử do Nicolas Gisin của Đại học Geneva tiến hành tại Thụy Sĩ năm 2008 với những điều kiện hiện đại và chính xác hơn những thí nghiệm trước đó, do đã có sự hỗ trợ của internet và tin học hiện đại, đã chứng minh chắc chắn rằng một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, cách xa nhau 18km, khi photon ở vị trí này bị tác động thì ngay tức khắc photon ở vị trí kia bị tác động theo, cụ thể là spin của photon này xoay theo chiều kim đồng hồ thì spin của photon kia chắc chắn xoay theo chiều ngược lại, không mất chút thời gian nào. Người ta thử tính, nếu giả sử có tín hiệu truyền đi qua khoảng cách 18km giữa hai vị trí, thì tốc độ truyền phải gấp hơn 10 triệu lần tốc độ ánh sáng, một điều hoàn toàn không thể có, vì theo định đề của Einstein, không thể có vật chất hay tín hiệu nào đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Vậy chỉ có thể kết luận rằng khoảng cách không gian chỉ là biểu kiến, là tưởng tượng của tâm chứ không có thật. Vật chất thật ra không có vị trí nhất định. Không phải chỉ có hạt cơ bản như photon, electron, không có vị trí nhất định, mà cả những cố thể vật chất cũng không có vị trí nhất định, Phật giáo gọi là vô sở trụ. Năm 1979, kỳ nhân Hầu Hi Quý đã dùng tâm niệm lấy một gói thuốc lá ở khoảng cách xa 1600 km là một sự chứng tỏ.

43/ Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Thứ tư, vật chất không có số lượng. Năm 2012, với thí nghiệm tạo được liên kết lượng tử giữa 100.000 photon của Maria Chekhova của đại học Moscow càng khiến cho nhận thức của nhân loại tiến xa thêm một bậc nữa.

Maria Chekhova tiến sĩ vật lý Đại học Moscow

Ý nghĩa triết học của thí nghiệm này là số lượng không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau hoặc nhiều hơn nữa, đến mức vô lượng vô biên, điều đó cho phép suy ra rằng bản ngã của cá thể là không có thật. Một trăm ngàn photon xuất hiện đồng thời tại một trăm ngàn vị trí khác nhau, mỗi photon không hoàn toàn giống các photon khác, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau, chẳng hạn vị trí khác nhau, số đo spin khác nhau. Như vậy một photon đã đồng thời biến thành 100.000 photon khác nhau. Số lượng vật chất chỉ là ảo chứ không phải thật.

Kinh Vô Lượng Thọ mô tả cuộc sống ở cõi Tây phương Cực lạc dựa trên nguyên lý vật chất là ảo, không có số lượng như sau :

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Những nhận thức của các nhà vật lý học hiện đại gây kinh hoàng cho giới khoa học và triết học vì nó làm sụp đổ tất cả mọi niềm tin về một thế giới vật chất khách quan. Do đó, một số người đã đề cập tới sự khủng hoảng của Khoa Học.

37/ SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

Song số người thực sự hiểu được ý nghĩa khoa học và triết học của những nhận thức mới này còn rất ít, tuyệt đại đa số mọi người, kể cả một số nhà khoa học vẫn còn mê ngủ, không hiểu rằng họ đang nằm mơ giữa ban ngày tức là đang mở mắt chiêm bao.

Thật ra những nhận thức này chỉ là mới mẻ đối với các nhà khoa học, chứ đối với tôn giáo như Đạo Phật chẳng hạn thì chẳng có gì mới, chúng đã được ghi trong kinh điển hàng ngàn năm trước. Chẳng qua là vì có rất ít người hiểu nên chúng bị quên lãng, hoặc có được lặp đi lặp lại cũng chẳng mấy ai hiểu, chẳng mấy ai tin. Chẳng hạn Kinh Kim Cang có bài kệ :

一切有為法,Nhất thiết hữu vi pháp        Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影,Như mộng huyễn bào ảnh   Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電,Như lộ diệc như điện           Như sương mai điện chớp

應作如是觀.  Ưng tác như thị quán           Nên xem thấy như thế

Thế giới là mộng huyễn, thực tế là mộng ảo chẳng phải có thật.

Đến khi chúng ta xem lại kinh điển Phật giáo thì vấn đề trở nên rõ ràng. Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng :

一切法無自性  Nhất thiết pháp vô tự tính  Tất cả các pháp đều không có tự tính

一切唯心造      Nhất thiết duy tâm tạo       Tất cả đều là do tâm tạo

Tất cả các pháp không có tự tính, điều đó có nghĩa rằng hạt electron, photon, quark và tất cả các hạt cơ bản khác đều không có đặc trưng đặc điểm gì cả.

Tất cả đều là do tâm tạo có nghĩa rằng tất cả mọi đặc điểm, đặc trưng của vật chất đều là do Tâm tưởng tượng ra, cụ thể là Mạt-na thức của mỗi chúng sinh đều lấy tập khí, tập quán của mình thay thế vào cấu trúc ảo của vật chất từ đó tưởng tượng ra nhiều cảnh giới khác nhau, nhưng tự mình không làm chủ được, hễ hợp ý thì vui, trái ý thì khổ, chẳng có gì gọi là khách quan cả. Khách quan chỉ là sự hiểu nhầm do nhiều người có tưởng tượng gần giống nhau mà thôi.

Cuộc sống con người tức nhân sinh nên như thế nào ?           

Điều đó hoàn toàn tùy thuộc cá nhân mỗi người, không có một công thức chung nào. Trong Thập Mục Ngưu Đồ, các bức tranh chăn trâu được sáng tạo từ thời nhà Tống ở Trung Quốc (960 – 1279). Ngay từ ban đầu nó đã được xem như là những bức họa tiêu biểu, trình bày về tinh hoa Phật giáo Thiền tông – Trung Hoa. Mười bức tranh Thập mục Ngưu đồ của Thiền tông tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt đến sự giác ngộ và bên trong nó ẩn giấu những tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Trong bức tranh thứ mười, mô tả hành giả đã giác ngộ thì : Nhập triền thùy thủ 入廛垂手 (buông tay vào chợ). Chợ là nơi hỗn tạp, lẫn lộn kẻ tốt người xấu, thiện ác gì cũng có. Đó không phải là nơi thanh tịnh. Vậy hành giả vào đó làm gì ? Có thể là đi mua đồ cần dùng, có thể là đi du hí, làm bạn với cả kẻ tốt người xấu.

吉州青原惟信禪師,上堂:「老僧三十年前未參禪時,見山是山,見水是水。及至後來,親見知識,有箇入處。見山不是山,見水不是水。而今得箇休歇處,依前見山祇是山,見水祇是水。大眾,這三般見解,是同是別?有人緇素得出,許汝親見老僧。Sư Thanh Nguyên Duy Tín ở Cát Châu, (Sách Chỉ Nguyệt Lục《指月录》chép Duy Tín thiền sư ở Cát Châu là đệ tử đời thứ 15 của Lục Tổ Huệ Năng) lên giảng đường, nói : “Lão tăng 30 năm trước lúc chưa tham thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Về sau, khi đã vào cửa thiền, có chút tri thức, thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước. Nay đã tới chỗ nghỉ ngơi, thì giống như trước, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước. Này mọi người, ba giai đoạn kiến giải đó là đồng hay khác ? Nếu có ai ngộ ra điều trắng đen gì, xin hãy đến gặp lão tăng.”  (Trích trong Ngũ Đăng Hội Nguyên đời Tống  宋代《五燈會元》)

Thiền sư Duy Tín muốn nói điều gì ? Ngộ và chưa ngộ, cảnh thì cũng chẳng có gì khác nhau, chỉ có tâm không còn chấp thật, ngã và pháp đều không chấp. Tất cả mọi cảnh giới đều là vọng tưởng như Phật đã từng nói với Ca Diếp : bậc thánh nhân giác ngộ cũng có thế lưu bố tưởng như mọi người khác, nghĩa là thấy trâu là trâu, thấy ngựa là ngựa, cũng giống như Duy Tín, thấy núi là núi, thấy nước là nước, nhưng không sinh ra trước tưởng nên không còn khổ nữa, dù có thiếu thốn vật chất, tiền bạc hay bệnh tật, tai nạn hay cái chết, trong lòng cũng không xao xuyến, uy quyền của vua cũng không thể áp bức được. Như clip thuyết giảng của thầy Duy Lực :

1194/ Thiền sư kiến tánh sinh tử tự do, không sợ uy quyền của vua

Đối diện với tình hình xã hội và thế giới 

Hành giả vẫn có thể sống cuộc sống bình thường. Cuộc sống trong gia đình, nghĩa vụ đối với chồng, vợ, con cái và xã hội cũng không có gì thay đổi. Vẫn cứ tiếp tục làm việc, ai thích nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nghệ thuật hay tin học thì vẫn cứ tiếp tục. Cuộc sống, làm việc và sản xuất, buôn bán vẫn như cũ, chỉ có tâm thái là thoáng, không còn quá cố chấp vào một cái gì, dù đó là cái tôi, lòng tự ái hay ngã sở, những cái thuộc về tôi, không còn cố chấp cái gì là chân lý mặc dù vẫn sống một cách đàng hoàng, trật tự. Hành giả vẫn có thể theo dõi cuộc đấu khẩu nảy lửa giữa Donald Trump và Kim Jong Un, họ lên tiếng đe dọa hủy diệt lẫn nhau bằng vũ khí hạt nhân, hành giả chỉ mỉm cười mà không có chút lo âu sợ hãi nào, bởi vì hiểu rằng bọn họ chỉ là diễn viên của đại hí trường cuộc đời, họ chỉ khoác lác chứ không ai dám khơi mào chiến tranh. Mà nếu chiến tranh có thực sự xảy ra thì đó là cộng nghiệp của loài người, phải chấp nhận thôi, còn nếu nghiệp chưa tới thì nó sẽ không xảy ra.

Hành giả vẫn có thể theo dõi TQ với thái độ hết sức bình tĩnh. Nước này đang muốn kiểm soát Biển Đông, đẩy Mỹ ra xa khỏi khu vực, nên xây dựng các đảo nhân tạo, bố trí các đường băng cho các loại máy bay cỡ lớn có thể lên xuống, đặt các radar và tên lửa để phòng thủ và kiểm soát. Năm 2014, họ giả vờ khoan dầu trong vùng biển tranh chấp với VN bằng giàn khoan khổng lồ 981 để thu hút tất cả chú ý của thế giới, trong khi đó thì họ ráo riết bồi đắp bảy đảo nhân tạo trong một thời gian rất ngắn. Khi thế giới quay lại nhìn thì việc đã rồi. Khi Mỹ đem tàu chiến đến thực thi quyền tự do hàng hải thì họ có lý do để xây dựng các nhà chứa máy bay cỡ lớn, radar và tên lửa. Họ có rất nhiều tiền và một năng lực sản xuất hiện nay đã vượt qua Mỹ, nên đề ra những kế hoạch cực lớn gọi là Vành đai và con đường (nhất đới nhất lộ) cần số tiền đầu tư lên đến hàng ngàn tỷ đô la để tìm cách xây dựng một trật tự thế giới mới mà Mỹ và phương tây không còn giữ thế thượng phong.   Hành giả vẫn có thể theo dõi phương tây, cụ thể Mỹ và Tây Âu, những nước tự hào về nền dân chủ lâu đời, những nước đi trước về khoa học kỹ thuật, kinh tế, quân sự, từ thế kỷ 18 cho tới đầu thế kỷ 21, thống trị thế giới, lập ra một trật tự thế giới do họ chủ đạo. Họ có nền văn hóa nhân bản, lãng mạn, tôn thờ tự do cá nhân, quyền của con người. Nhưng phương tây hiện đang đối mặt với những thách thức chưa từng có, khi nền dân chủ thể hiện bằng quyền bầu cử của người dân, nhưng không chọn ra được những nhà lãnh đạo tài giỏi nhất. Chẳng hạn cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 chỉ chọn ra được một vị tổng thống nóng nảy, chủ quan, không có một chính sách đúng đắn, thông minh, tinh tế. Nhà lãnh đạo này có vẻ không đem lại cho nước Mỹ sự đoàn kết nhất trí để giữ vững được vị trí của mình trên thế giới, mà thực tế lại tạo cơ hội cho các nước mới nổi giành lấy ưu thế. Ví dụ Mỹ đã rút ra khỏi hiệp ước TPP ( viết tắt của từ ngữ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia ven Thái Bình Dương. Điều đó khiến cho các nước đó dù muốn dù không cũng ngã về phía TQ. Một ví dụ khác là Mỹ cũng đã rút ra khỏi hiệp ước chống biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là COP 21- Conference of the Parties, referring to the countries that have signed up to the 1992 United Nations Framework -Hội nghị của Các bên tham gia liên quan đến các nước đã ký Công ước khung Kyoto 1992 về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc, lần thứ 21-tại Paris ). Như vậy vô hình trung Mỹ đã nhường vị trí lãnh đạo thế giới cho TQ. Mỹ đã co cụm lại, rút lui khỏi những hiệp ước quốc tế quan trọng. Mỹ cũng không có kế hoạch gì to tát có thể làm đối trọng với kế hoạch Nhất đới nhất lộ vĩ đại của TQ bởi vì Mỹ không còn năng lực mạnh về tài chính mặc dù Mỹ là nước làm chủ đồng đô la và có quyền in tiền. Tình hình thế giới hiện nay cho thấy Mỹ và phương tây đã suy yếu rõ ràng. Họ rất muốn ủng hộ phe phiến loạn nhằm lật đổ chính phủ hợp pháp của Syria, nhưng rõ ràng không đủ sức. Bây giờ ngay cả một nước nhỏ bé nghèo nàn như Triều Tiên cũng dám lớn tiếng thách thức Mỹ, mà nước Mỹ của Trump có vẻ bất lực, không thể làm gì được ngoài những lời đe dọa có tính chất hiếu chiến, ví dụ như phát biểu đe dọa xóa sổ hoàn toàn quốc gia Triều Tiên của Trump tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19-09-2017. Kim Jong Un đã phản pháo bằng cách đe dọa cho nổ bom nhiệt hạch trên Thái Bình Dương. Sự bất lực của Mỹ và phương tây thể hiện ở chỗ họ cứ muốn tăng cường cấm vận trong khi biết rõ rằng cấm vận không hề có chút hiệu quả nào, còn biện pháp quân sự thì không dám thực hiện, bởi vì TQ đã lên tiếng rằng nếu Mỹ tấn công Triều Tiên trước, TQ sẽ can thiệp, như vậy cuộc chiến sẽ trở nên vô vọng, chắc chắn sẽ tệ hại hơn cuộc chiến hồi 1950-1953 lúc TQ còn hết sức lạc hậu, nhưng đã can thiệp, và Mỹ đã không thể giành chiến thắng, trong khi TQ hiện nay đã hùng mạnh hơn rất nhiều. Ký ức về cuộc bại trận năm 1975 trong chiến tranh VN vẫn còn đó. Không lật đổ nổi chính quyền Assad tại Syria sau 7 năm chiến tranh khốc liệt chứng tỏ Mỹ đã suy yếu như thế nào. Triều Tiên không cần sử dụng tới vũ khí hạt nhân, Mỹ cũng không thể thay đổi được chế độ Bình Nhưỡng, đó là điều quá rõ ràng khiến Mỹ không thể sử dụng biện pháp quân sự.

Trong cuộc sống cá nhân của hành giả tu thiền, mọi việc đều có thể diễn ra như bình thường, chỉ có tâm thái là khác thôi. Ai đi làm việc cho nhà nước, cho công ty, xí nghiệp, nhà máy, công trường, thì vẫn đi làm như cũ. Nhưng vì không còn quá chấp ngã, chấp pháp nên tâm tư lúc nào cũng nhẹ nhàng, sống không lo sợ, không thù hằn. Hành giả chỉ cần tránh những ác nghiệp như sát sinh, hại vật, trộm cướp, dối gạt hại người, rượu chè be bét, tà dâm v.v…Đó là 5 giới cơ bản của Phật giáo. Hành giả cũng có quyền lựa chọn ăn chay hay không ăn chay. Ăn chay để tránh hại mạng của sinh vật. Ăn mặn, thí dụ ăn tôm tép, thịt cá, cua ghẹ… là vay nợ mạng sống của chúng sinh khác, nhưng nếu không sợ, sẵn sàng trả nợ, thì cứ ăn. Các giới khác cũng vậy, mọi hành vi đều bị chi phối bởi luật nhân quả, nếu không sợ nợ vay thì cứ vay. Nhưng cần phải hiểu rõ, lúc nghiệp tới thì phải chấp nhận, không thể mở miệng kêu trời, kêu khổ. Những trường hợp thương tâm xảy ra hàng ngày trong xã hội, nên hiểu rằng đó là lúc nghiệp tới, không phải ngẫu nhiên trời giáng họa. Hành giả cũng không cần phải lấy mũ ni che tai hay phải nhắm mắt để khỏi nghe thấy những điều trái tai gai mắt trong đời sống xã hội. Chỉ cần hiểu rằng tất cả mọi cảnh giới đều vô thường, dù là thuận duyên phước báo hay nghịch duyên ác báo. Các cảnh đó đều là ảo hóa, tâm không cần phải quá hoan hỉ hay bi ai. Gặp nghịch cảnh không cần phải quá buồn rầu đau khổ. Gặp thuận cảnh cũng không nên quá vui mừng kiêu hãnh. Bởi vì các cảnh giới đều là vô thường và chỉ là ảo hóa. Hành giả cư sĩ hàng ngày vẫn có thể xem tivi, xem video trên mạng, thưởng thức ca nhạc, xem phim thời sự, phim tài liệu, phim truyện v.v…tức là vẫn nắm được mọi thông tin, mọi tình hình trong nước và thế giới, nhưng với tâm thái thoáng, nghĩa là không bị tác động tuyên truyền hay ảnh hưởng của những thông tin đó. Tại sao không bị ảnh hưởng ? Bởi vì tâm thái cởi mở, thoáng nên không bị vướng mắc, không phát sinh ý nghĩ ưa ghét, tôn sùng hay thù hận. Hành giả không phát sinh ý nghĩ thù ghét Kim Jong Un vì cho rằng ông ta đe dọa an ninh của các nước chung quanh và cho cả thế giới. Ông ta quyết tâm phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa là nhằm mục đích tự vệ chống Mỹ bởi vì thấy tấm gương Mỹ đã lật đổ Saddam Hussein của Iraq, đã lật đổ Gaddafi của Lybia, và muốn lật đổ Assad của Syria nhưng bất thành. Nhưng ông ta cũng không dại gì dùng vũ khí hạt nhân để tấn công các nước khác, bởi vì sẽ bị phản công hạt nhân từ nước Mỹ khiến Triều Tiên bị xóa sổ. Hành giả cũng không thù hận bọn IS dù cho chúng tàn bạo vô lương tâm, đi đánh bom hoặc dùng xe tải cán chết người dân của các thành phố nhiều nơi trên thế giới, nhất là Châu Âu. Bởi vì bọn chúng là nhân họa, nhân họa thì cũng chẳng khác gì thiên tai, đó là do cộng nghiệp của nhân loại. Những chuyện xảy ra trên thế giới là một chuổi nhân quả do mê muội lầm lạc chứ chẳng phải là ngẫu nhiên. Và tất cả mọi điều diễn ra trên thế giới giống như một vở kịch lớn. Thế giới là một đại hí trường, mọi người đều là diễn viên của vở đại hí kịch, có người đóng vai chính diện, tích cực chuyên làm việc thiện, cũng có người đóng vai phản diện, tiêu cực, chuyên làm việc xấu ác.Hành giả vẫn sống cuộc sống gia đình bình thường, làm tròn nghĩa vụ của vợ, chồng, cha mẹ, con cái. Hang ngày vẫn làm việc kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình. Nghĩa là vẫn có thể tiến hành mọi việc một  cách bình thường nhưng với tâm thái thoải mái nhẹ nhàng, không phải nặng trĩu lo âu về bất cứ vấn đề gì vì giác ngộ tánh không của vũ trụ vạn vật, thấu triệt tam pháp ấn của Phật giáo : vô thường là bản chất ảo hóa của thế giới. Vô thường tất nhiên sẽ dẫn đến khổ. Nhưng khổ cũng không có thật, và phương thuốc để trị khổ là giác ngộ tính vô ngã, không có thật của vạn hữu. Tóm lại khổ là một chứng bệnh giả, và Phật pháp là phương thuốc giả để trị chứng bệnh giả ấy. Tóm lại không có cái gì là thật, là chân lý cả. Xin hãy nghe thầy Duy Lực thuyết.

0565 Phật pháp là thuốc giả để trị bệnh giả. Ngài Nguyệt Khê nói Tư tưởng tức là Tang vật

Mặc dù hoạt động của bộ não là vọng tưởng tạo ra sự ảo hóa chẳng có gì chân thật, nhưng trong cảnh thế gian tương đối, bộ não người là một công dụng rất lớn của tâm, nó có thể tạo ra thiên đường, địa ngục, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, cảnh đẹp, người đẹp. Vậy hành giả nên có thái độ thế nào ?

Khoa học của bộ não tuy bị hạn chế không thể giải quyết được vấn đề sinh tử luân hồi, vấn đề giác ngộ, nhưng nó có năng lực lớn để giúp cuộc sống của con người trên thế gian thoải mái hơn. Chẳng hạn công việc giặt quần áo cho cả gia đình là nặng nhọc, nay khoa học chế tạo ra máy giặt giúp cho việc này được giảm nhẹ rất nhiều. Thân nhân trong một gia đình hiện nay có thể ở tứ tán khắp nơi trên thế giới, nếu không có thân nhân bạn bè ở nước ngoài thì cũng có thân hữu ở nơi xa trong nước. Trước đây vài chục năm, sự liên lạc rất khó khăn khi phải dùng thư giấy gởi qua bưu điện. Nay đã có điện thoại và smartphone, rõ ràng đem lại sự thuận tiện rất lớn cho mọi người. Chúng ta có thể gởi tin nhắn, thư, hình ảnh, video, siêu văn bản (hypertext) rất tiện lợi và ít tốn tiền. Smartphone ứng dụng được mệnh đề “Ưng vô sở trụ” trong Kinh Kim Cang, bởi vì dù chúng ta ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể liên lạc với thân nhân, bạn bè trên khắp thế giới miễn là kết nối được internet qua các ứng dụng Email, Facebook, Messenger và OTT (Over The Top) như Zalo, Viber, Whatsapp, …Ví dụ nếu có thân nhân đi du lịch ở Sicily, chúng ta ở nhà vẫn có thể thấy toàn cảnh của thành phố Palermo trên đảo Sicilia của Italy qua tin nhắn ảnh.

Nhờ có khoa học chúng ta được hưởng những tiện nghi vật chất như điện, nước, gaz dẫn đến tận nhà, thông tin liên lạc với bất cứ nơi đâu có internet trên thế giới. Khi cần đi đâu thì có xe máy, xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu thủy v.v…thật là tiện lợi. Dù muốn dù không thì chúng ta cũng đã thừa hưởng những tiện nghi do khoa học đem lại. Chúng ta không cần phải phủ nhận hay chối bỏ những tiện nghi đó. Chỉ cần hiểu khả năng của khoa học là có hạn, nó không thể giúp con người giác ngộ, nhận ra bản lai diện mục và thoát khỏi luân hồi sinh tử. Muốn làm được điều đó thì phải tu tập công phu, kết nối được với bản tâm của mình.

Bộ não tuy mê muội, lầm lẫn nhưng nó có khả năng sáng tạo rất lớn bởi vì nó là một ứng dụng tuyệt vời của bản tâm. Những sáng tạo của nó về mặt văn hóa nghệ thuật cũng đem lại một sự giải trí thư giãn phong phú cho đời sống con người sau một ngày lao động vất vả kiếm sống. Sáng tạo về mặt triết học tư tưởng, điển hình là Phật giáo, cung cấp một nhãn quan phi thường về thế giới quan, hướng dẫn con người giác ngộ, thoát khổ. Sáng tạo về mặt âm nhạc đem lại những phút giây giải trí sâu lắng, nhàn tĩnh. Chẳng hạn những bài hát sau đây mang hương vị giải thoát :

117/ Bài Ca Tánh Không – Huệ Phổ Pháp Sư – Việt dịch

Hoặc bài hát phổ nhạc bài kinh tụng hàng ngày của giới tu sĩ Phật giáo.

146/ Bát Nhã Tâm Kinh- VD- Tôn Lộ

Trong kinh điển Phật giáo cũng có đề cập tới mỹ nhân, ví dụ Ma Đăng Già và Liên Hoa Sắc. Mỹ nhân hay mỹ cảnh cũng đều là sáng tạo của Tâm. Chẳng hạn :

Truyện Ma Đăng Già Nữ

Ma Đăng Già Nữ摩登遮女(Matàngi) là một dâm nữ quyến rũ ngài A Nan Đà. A Nan sau khi thoát nạn, kể lại cho Phật nghe : “Hôm qua, lúc con đi khất thực, thấy bên bờ sông có một thiếu nữ đang gánh nước, con mới theo cô ta xin nước. Uống nước xong, sau đó, con lại về đến chỗ Phật. Đến sáng nay thì có một người nữ muốn thỉnh con về nhà để dùng cơm. Nhưng đến khi sắp ra về, bà mẹ và cô con gái bắt con ở lại bà mẹ muốn đem con gái của mình để gả cho con. Con nói: “Tôi giữ giới của Phật không thể lấy vợ”. Ma Đăng Già nữ dùng 《Sa-tì-cà-la Tiên Phạm Thiên chú》mê hoặc A Nan, đưa vào buồng riêng, dựa kề vuốt ve, làm cho ông suýt phá giới, sắp vầy cuộc ái ân thì Phật đã kịp thời sai Văn Thù cầm Phật Đảnh thần chú đến giải cứu.

Sáng hôm sau, Ma Đăng Già đi đến tịnh xá đòi Phật phải trả A Nan lại cho nàng. Nhưng may quá, dọc đường nàng thấy A Nan đang đi khất thực. Ma Đăng Già bèn lẻo đẻo theo sau. Thế là nàng nhìn xuống chân, rồi nhìn lên mặt A Nan. Tôn giả A Nan mắc cỡ lảng tránh đi, nhưng nàng Ma Đăng lại đi theo mãi không thôi. Cuối cùng, A Nan trở về được chỗ Phật ngự. Ma Đăng lại đón giữ ngay cửa, vì chờ lâu quá không thấy A Nan ra nên nàng khóc và cuối cùng đành bỏ về. Phật biết Ma Đăng Già có duyên được độ nên cho gọi nàng đến. Phật bảo nàng hãy cắt hết tóc thì sẽ cho phép A Nan lấy nàng. Bà mẹ không muốn cắt tóc con gái nhưng nàng quyết tâm xuống tóc, bà mẹ đành gạt nước mắt làm theo thỉnh cầu. Xuống tóc xong nàng trở lại chỗ Phật.

Phật nói: “Ngươi nói yêu A Nan, vậy ngươi yêu ở chỗ nào?”.

Nàng nói: “Con yêu đôi mắt A Nan, yêu lỗ mũi A Nan, yêu miệng A Nan, yêu tai A Nan, yêu giọng nói A Nan và yêu từng bước đi của A Nan”.

Phật nói: “Trong mắt A Nan chỉ có nước mắt, mũi A Nan chỉ có nước mũi, trong miệng A Nan chỉ có nước miếng, trong tai A Nan chỉ có cáu bẩn, còn trong thân thì chỉ có máu me, phân và nước tiểu, toàn là những thứ bất tịnh, hôi thối. Cho dù có được làm chồng vợ của nhau đi nữa thì chỉ có phơi bày sự xấu xa, bất tịnh. Trong sự phơi bày xấu xa ấy, con cái được sinh ra. Khi đã có con rồi thì có sự chết, đã có chết thì liền có sự khóc lóc. Thế thì thân nầy có ích gì đâu?!”.

Ma Đăng Già nghe Phật nói xong, liền tự ngẫm nghĩ về sự ô uế của thân thể, nàng tự mình giữ tâm chân chánh. Sau đó chứng được quả A La Hán. Phật biết nàng đã chứng quả A La Hán, liền bảo: “Thôi! Ngươi hãy đến chỗ A Nan đi!”.

Cô cảm thấy e thẹn, gục đầu xuống, quỳ trước Phật và bạch rằng: “Con trước đây thật ngu si nên đeo đuổi theo A Nan. Hôm nay, tâm con đã được khai ngộ, giống như trong chốn tối tăm có đèn sáng, như người đi thuyền gặp lúc thuyền đắm  được nương tựa vào bờ, như người mù được sự dìu dắt, như người già được gậy. Hôm nay, Đức Phật nói đạo lý vô thượng, khiến cho tâm con được tỏ ngộ”. Về sau nàng gia nhập hàng ngũ tăng già làm tỳ kheo ni, trong đoàn thể ni giới do bà Mahā Pajāpatī Gotamī (Ma-ha ba-xà ba-đề Kiều-đàm-di) làm Ni trưởng.

Các tỳ kheo hỏi Phật: “Mẹ của người nữ đó theo con đường xấu ác, vì duyên cớ gì mà cô ta được quả A La Hán?”.

Phật hỏi lại: “Này các tỳ kheo, các ông muốn hiểu biết thêm về người nữ đó không?”. Các thầy tỳ kheo bạch: “Chúng con xin vâng”.

Phật nói: “Nàng Ma Đăng Già này 500 đời trước đã từng làm vợ A Nan. Vì trong 500 đời ấy, họ từng kính mến, tôn trọng, say đắm và yêu thương nhau. Thế nên hôm nay, hai người vừa gặp nhau thì giống như đã quen biết mến mộ nhau từ lâu rồi”. Vì họ đã từng tu tập nhiều đời trong giáo pháp của ta nên hôm nay được chứng quả.

Truyện Liên Hoa Sắc

Liên Hoa Sắc 蓮華色 (Utpalavarṇā) là một tuyệt thế giai nhân mà cuộc đời chìm đắm trong nỗi truân chuyên vô cùng éo le. Nàng là con gái yêu của một vị trưởng giả thành Taxila, sống cùng thời với Đức Phật Thích Ca. Dĩ nhiên nàng được ăn học tử tế như bao cô gái khuê các khác, rồi đến năm mười sáu tuổi thì được cha gả cho một anh chàng đẹp trai cân xứng, môn đăng hộ đối, chẳng bao lâu nàng có bầu. Cuộc đời như nở hoa ấy bỗng đất bằng dậy sóng. Do Ấn Độ có tập tục, phụ nữ phải về nhà mẹ ruột sinh con, chồng của Liên Hoa Sắc liền đưa nàng về nhà mẹ ruột chờ sinh. Trong thời gian nàng sinh con, người chồng không tránh khỏi cảm giác trống vắng, thiếu thốn nên tư thông với mẹ của nàng. Liên Hoa Sắc phát hiện, đau đớn vô cùng, nhưng vì đứa con, nên đành nhẫn nhục sống qua ngày, đến khi đứa con được 8 tuổi, nàng mới lặng lẽ bỏ đi. Nàng Liên Hoa Sắc được thừa hưởng nhiều gen di truyền của mẹ nàng, vừa đẹp lại vừa dâm nên đã tạo thêm ra rất nhiều nghiệp chướng. Nàng lang thang đến thành Ba La Nại kiếm sống qua ngày. Thời gian sau nàng gặp được một ông trưởng giả giàu sang, yêu thương và cưới nàng làm vợ chánh thất. Họ sống rất hạnh phúc trong khoảng mười năm, rồi nghiệp quả lại giáng xuống đầu nàng một lần nữa khi chồng nàng, sau thời gian dài đi buôn bán phương xa, đã mang về một người tỳ thiếp trẻ mà ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để mua. Nàng cũng rất rộng lượng sẵn sàng đón nhận người vợ lẽ của chồng, nhưng oan nghiệt thay ngay lần đầu gặp mặt nàng đã nhận ra cô gái trẻ chính là đứa con gái bị bỏ rơi của nàng.  Nàng Liên Hoa Sắc trong cơn tuyệt vọng, rời bỏ vị trưởng giả bắt đầu sống cuộc sống phóng túng, buông thả, chỉ cần chàng trai nào bỏ ra 500 đồng vàng, đều có thể qua đêm với  nàng. Không lâu sau, nàng Liên Hoa Sắc được ngài Mục Kiền Liên hóa độ, trở nên tỉnh ngộ. Lúc ấy, nàng nghe nói Đức Phật đang tuyên thuyết pháp giải thoát trên núi Linh Thứu, tâm khởi lên lòng cầu pháp. Nàng liền tới núi Linh Thứu tìm Phật. Đi đến giữa đường, cảm thấy khát nước, nàng xuống một con suối, uống nước rửa tay. Bấy giờ, nàng soi thấy hình bóng diễm lệ của mình trong nước, liền sinh khởi tâm ái niệm: “Ta vì sao lại phải xả bỏ khuôn mặt đẹp đẽ này mà xuất gia làm Sa môn?” Nàng do dự muốn quay về. Phật dùng thiên nhãn quán biết Liên Hoa Sắc cần phải được hóa độ, bèn hóa thành một vị phu nhân đẹp tuyệt trần, đẹp hơn cả Liên Hoa Sắc, bước đến bên cạnh nàng. Liên Hoa Sắc chợt thấy người phụ nữ đó, tưởng là người trời, hai người làm bạn chuyện trò vui vẻ. Đi một đoạn đường, cả hai đều hơi mệt, bèn ngồi nghỉ ngơi bên suối, người phụ nữ ngủ thiếp gối đầu lên đùi của Liên Hoa Sắc. Bỗng nhiên, người phụ nữ dường như ngừng thở, chẳng bao lâu thi thể sình lên hôi thối, giòi bọ bò lổm ngổm, răng rời ra từng cái, tóc tơi tả bay rụng, da thịt trên thân thể tan rã, hình dạng hết sức ghê tởm đáng sợ. Khi đó Liên Hoa Sắc vô cùng kinh ngạc, nghĩ thầm: “Làm sao một người đang khỏe mạnh, bỗng nhiên lại lăn ra chết vậy? Mà sao một người đẹp tuyệt trần, sau khi chết rồi lại trở nên ghê tởm đến vậy, rồi mình tương lai cũng thế mà thôi” Dứt niệm, nàng vội vã quay lại, hướng lên núi Linh Thứu, quyết ý cầu pháp với Đức Phật. Sau đó nàng tu hành chứng được thánh quả A La Hán.

Kết luận

Các câu chuyện này biểu trưng cho thái độ của Phật giáo đối với mỹ nhân. Đó là vô thường luôn đe dọa, thân thể là bất tịnh. Bà mẹ của Tất Đạt Đa cũng là mỹ nhân, vợ vua Tịnh Phạn, Bà là hoàng hậu Ma Da摩耶 (Mayadevi) lúc gần ngày sinh, đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến vườn Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa. Bảy ngày sau khi hạ sinh thì bà qua đời. Nếu không chết bất đắc kỳ tử như Bà Ma Da, thì cũng gặp chuyện éo le oan trái như nàng Liên Hoa Sắc. Hoặc nhận thức cơ thể ô uế bất tịnh chẳng có gì là đẹp như hai câu chuyện liên quan đến hai mỹ nhân nói trên. Điều đó gần giống như thuyết hồng nhan bạc mệnh của bên Á Đông mà Nguyễn Du từng mô tả trong Truyện Kiều :

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Trời ganh với vẻ đẹp của hồng nhan, hay nói cho chính xác hơn, trời đã cho phụ nữ vẻ đẹp yêu kiều thì cũng đồng thời cho họ một số mệnh bất hạnh như nàng Liên Hoa Sắc để cho cân bằng.

Song đó chỉ là một cách diễn đạt để khuyến khích người ta tu hành giải thoát. Chứ chính trong Phật giáo cũng nói rất rõ rằng phàm là lời nói đều không có nghĩa thật. Thiện ác, tốt xấu, bền vững hay mau biến đổi đều chỉ là vọng tưởng của con người, không có gì là thật cả. Kinh Kim Cang nói : Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp tức vi báng Phậtbất năng giải ngã sở thuyết cố 若人言如來有所說法,即為謗佛,不能解我所說故(Nếu có ai nói Như Lai có pháp để thuyết là phỉ báng Phật, không hiểu vì sao ta thuyết).  

Trong cuộc sống nhân sinh thực tế thì người ta luôn có khuynh hướng về chân thiện mỹ. Mỹ nhân là một người đẹp mà bất cứ xã hội nào cũng trọng vọng. Mỹ nhân theo quan niệm xưa cũng không nhất thiết là phụ nữ, mà có thể là nam nhân có tư cách đẹp, cao thượng hoặc là bậc tôn quý. Ví dụ bài Sở từ trích trong Cửu Ca của Khuất Nguyên mà Tô Thức đã trích lại trong bài Tiền Xích Bích Phú của mình :

桂棹兮蘭槳          Quế trạo hề lan tương                Chèo quế hề dầm lan

擊空明兮泝流光  Kích không minh hề tố lưu quang Bơi trong vắng lặng hề ngược ánh trăng

渺渺兮予懷          Miểu miểu hề dư hoài                  Man mác hề lòng ta nhung nhớ

望美人兮天一方  Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương  Ngóng mỹ nhân hề một phương trời

Khuất Nguyên làm bài từ này khi ông bị Sở Tương Vương đày xuống Giang Nam, vùng sông Tương, sông Mịch La. Mỹ nhân mà ông hướng về, trông đợi, là Sở Hoài Vương đã đi xa rồi, đã khuất núi rồi.

Chân trong cõi thế gian tương đối là những quy luật quy tắc chi phối sự vận động của vật chất và ý thức. Ví dụ các nguyên lý cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật như : nguyên lý nhân quả, nguyên lý nhân duyên hay duyên khởi, nguyên lý bất định, nguyên lý bất toàn, nguyên lý thay thế. Rồi đến các định luật vật lý, các quy tắc về thiện ác, đạo đức, về ứng xử trong xã hội v.v…

Thiện là việc tốt lành, chân chính, tử tế, đem lại sự an vui cho mọi người. Ví dụ như từ bi, bố thí, từ thiện, công bằng, vô tư, không vụ lợi. Thiện cũng là những việc ích nước, lợi dân, quan lại thanh liêm, mình vì mọi người, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no cho dân chúng.

Mỹ là cái đẹp, vẻ đẹp của phong cảnh thiên nhiên, vẻ đẹp của hình thể con người, vẻ đẹp của văn minh như đô thị, đường sá, cầu kiều, phi trường, bến cảng, sản phẩm vật chất do con người sản xuất ra, hay sản phẩm văn hóa tinh thần phi vật thể do con người làm ra.

Tất cả những việc chân thiện mỹ nói trên, hành giả tu hành theo Phật pháp đều có thể ai theo nghiệp nấy, không có cái gì phải bỏ cả, nhưng cũng không cố chấp, chỉ tùy duyên thôi. Tóm lại, Phật pháp bất ly thế gian pháp, hành giả chỉ cần giác ngộ thay đổi tâm thái để tự mình làm chủ cuộc đời mình, làm chủ hoàn cảnh, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ vạn vật, không phải bằng cách dựa vào cái ngã của mình, chiếm đoạt xâm phạm những cái không phải của mình. Vậy cái gì là của mình ? Đó là bản tâm, bản lai diện mục sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh ra, chỉ cần nhận ra và thể nhập. Khi ta dùng lời nói diễn tả thì đã không đúng vì đã chia ra có năng sở (chủ thể và đối tượng). Với các bậc kiến tánh giác ngộ thì  bản tâm là chánh biến tri, tự biết chứ không còn năng sở.

Truyền Bình

Nguồn: duylucthien

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: