• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

William Shakespeare

Shakespeare

Phạm Văn Tuấn

William Shakespeare (1564-1616) là nhà viết kịch và nhà thơ bậc nhất của nước Anh đồng thời cũng là tác giả danh tiếng nhất trên Thế Giới. Không một nhà văn nào có các tác phẩm được nhiều người tại nhiều quốc gia tìm đọc hơn William Shakespeare bởi vì Đại Văn Hào Shakespeare đã hiểu rõ bản chất của con người, đã nhìn rõ các hoàn cảnh đặc biệt mà con người sinh hoạt, đã tạo ra các nhân vật trong các vở kịch mang nhiều ý nghĩa ra ngoài thời gian và không gian. Những nhân vật này đã tranh đấu giống như mọi người trong đời sống hàng ngày, đôi khi họ thành công, nhưng cũng có khi họ gặp thất bại cay đắng, bi thương

William Shakespeare đã có một kiến thức rộng rãi về nhiều đề tài gồm cả Thánh Kinh, Luật Pháp, Chính Trị, Lịch Sử, Nghệ Thuật, Âm Nhạc, Thể Thao, Săn Bắn, Thủ Công… đó là sự hiểu biết của một học giả nhưng ông lại chỉ có kinh nghiệm về Sân Khấu. William Shakespeare đã viết ra 37 vở kịch, được chia thành 3 loại là hài kịch, lịch sử và bi kịch với mọi loại nhân vật như vua chúa, tướng lãnh, các nhà triết học, các kẻ chăn cừu, các tay nghiện rượu, các kẻ móc túi… cho đến những tên giết mướn. Các vở kịch của William Shakepeare đã được phổ biến khắp nơi, gây nên ảnh hưởng lớn lao về Văn Hóa trên toàn Thế Giới. Nhiều từ và câu trong các vở kịch và bài thơ của William Shakespeare đã ở trong câu nói hàng ngày của nhiều dân tộc. Các tác phẩm của William Shakespeare đã giúp công vào việc hình thành Văn Chương của tất cả các quốc gia nói tiếng Anh và không nói tiếng Anh như hai nước Đức và Nga.

Các ý tưởng của William Shakespeare về các vấn đề như tình yêu lãng mạn, tính anh hùng hay bản chất của bi kịch đã tạo ảnh hưởng tới thái độ của hàng triệu người. Hơn nữa, các hình ảnh do William Shakespeare mô tả như Julius Caesar, Mark Anthony và Cleopatra đã gây ấn tượng đến chúng ta hơn các cuốn sách dạy về Lịch Sử.

Các vở kịch, các bài thơ của William Shakespeare đã được in thành sách, dịch sang các ngôn ngữ khác nhau và hàng ngàn học giả vẫn nghiên cứu các tác phẩm của William Shakespeare cũng như các nhà soạn nhạc đã dựa vào các câu chuyện và nhân vật của William Shakespeare để soạn ra các nhạc kịch danh tiếng. Ngày nay, đã có các bộ sách nghiên cứu đặc biệt, các thư viện đặc biệt với chuyên đề là William Shakespeare như Thư Viện Folger Shakespeare tại Thủ Đô Washington D.C., Thư Viện và Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Henry E. Huntington tại San Marino, Calif., Viện Bảo Tàng Anh Quốc (the British Museum) tại thành phố London, Thư Viện Bodleian của Đại Học Oxford, nước Anh, đồng thời các nhà làm phim đã chuyển các vở kịch của William Shakespeare thành các bộ phim hấp dẫn trình chiếu khắp nơi trên Thế Giới.

1/ Cuộc đời của William Shakespeare.

Vào thời đại của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhất, người dân nước Anh chỉ quan tâm đến các sự việc liên quan tới nhà thờ và quốc gia. Các chi tiết về tiểu sử, nhất là tiểu sử của một nhà soạn kịch, lại càng không được chú ý, ngoài ra nghề viết kịch không phải là một nghề cao quý trong xã hội. Do thiếu các tài liệu chính xác, nhiều người cùng tin rằng William Shakespeare sinh vào năm 1564, năm thứ 6 của triều đại Nữ Hoàng Elizabeth I và được rửa tội có lẽ vào ngày 26 tháng 4 tại Stratford-upon-Avon, trong khu vực Warwickshire nằm cách thành phố London 120 cây số về phía tây bắc.

William Shakespeare là người con thứ ba của ông John và bà Mary Arden Shakespeare. Ông John Shakespeare, cha của William, vốn là một người thợ thuộc da và bà Mary Arden là con gái của một chủ trại giàu có hơn, theo đạo Thiên Chúa Catholic. Hai ông bà kết hôn vào năm 1557. Hai người chị của William đã qua đời trước khi William sinh ra và các người em khác là Gilbert, Joan thứ hai, Anne, Richard và Edmund. Chỉ có em gái Joan thứ hai sống lâu hơn William.

Stratford-upon-Avon là một thị xã thịnh vượng và tiến bộ, hãnh diện vì có một trường tiểu học gồm nhiều thầy giáo tốt nghiệp Đại Học Oxford. William bắt đầu đi học vào tuổi lên 7, có lẽ theo học trường tiểu học Stratford với các trẻ em cùng giai cấp. Vào cuối thế kỷ 16, thị xã Stratford có dân số vào khoảng 1,500 tới 2,000 người nhưng lại là nơi họp chợ quan trọng của cư dân các vùng chung quanh. Cuộc sống của người dân nơi thị xã này khá tấp nập nhờ các buổi họp chợ, nhờ các đoàn kịch đến trình diễn các vở hát như Robin Hood. Bên ngoài thị xã là các cánh đồng, các khu rừng, ngoài ra gần thị xã còn có giòng sông Avon, là nơi có nhiều người câu cá, thả lưới. William Shakespeare đã yêu mến thiên nhiên và đời sống nông thôn với chim muông, sâu bọ và các người dân quê hiền lành, nên về sau đã phản ánh những tình cảm này qua các bài thơ và các vở kịch.

Vào năm 1576, ông John Shakespeare đã gặp một tai nạn khiến cho ông phải bán đi nhiều tài sản và William không thể theo học được nữa. Ông John đưa con trai về nhà để phụ giúp cửa hàng. Một sự việc bất lợi khác xẩy ra khiến cho William phải cưới vợ vội vã vào tuổi 18, khi đó cô dâu Anna Hathaway 26 tuổi, là con gái của một chủ trại giàu có, sinh sống trong làng Shottery, cách Stratford vào khoảng một dặm đường. Họ đã có con gái đầu lòng tên là Susanna, rồi tới đầu năm 1585, một cặp sinh đôi đã ra chào đời là Hamnet, con trai, và Judith, con gái. Trong khoảng thời gian từ năm 1585 tới năm 1592, đã không có chi tiết nào ghi về cuộc đời của William Shakespeare. Một câu chuyện khác nói rằng William Shakespeare sống tại thành phố London vào năm 1588, làm nghề coi ngựa cho chủ rạp hát và cũng làm người hầu.

Từ năm 1592, William Shakespeare đã hoàn toàn dấn thân vào sinh hoạt kịch nghệ của thành phố London với vai trò của một diễn viên và của người có cổ phần trong công ty kịch nghệ “The Lord Chamberlain’s Men”. Đây là đoàn hát danh tiếng thường hay trình diễn trong triều đình của Nữ Hoàng Elizabeth I. Trung bình mỗi năm William Shakespeare sáng tác được 2 vở kịch và là nhà soạn kịch danh tiếng nhất của thành phố London. Trong cuốn sách có tên là “Palladio Tamia : Witt’s Treasury”, xuất bản vào năm 1598, nhà văn trẻ tuổi Francis Meres đã viết về William Shakespeare như sau :”Giống như Plautus và Seneca nổi danh về các hài kịch và bi kịch viết bằng tiếng La Tinh, Shakespeare là tác giả người Anh xuất sắc nhất về cả hai loại kịch kể trên dùng cho sân khấu”. Lời khen ngợi của Francis Meres đã xác nhận rằng vào cuối thập niên 1590, William Shakespeare đã là nhà văn hữu hạng dù cho vào thời gian này, ông chưa viết ra các vở bi kịch lớn lao như Hamlet, Othello, Vua Lear và Macbeth.

Từ năm 1592 tới năm 1594, bệnh dịch đã khiến cho các rạp hát tại thành phố London phải đóng cửa nên William Shakespeare quay sang làm thơ. Năm 1593, tập thơ dài của William Shakespeare với tên là “Venus và Adonis” được in ra và đề tặng cho Henry Wriothesley, Hầu Tước miền Southampton. Tập thơ “Venus và Adonis” đã sớm thành công. Sau đó vào năm 1594 tập thơ dài thứ hai của William Shakespeare có tên là “Cuộc Hiếp Dâm Nàng Lucrece” (the Rape of Lucrece). Vào cuối thập niên 1590, không những là một nhà văn danh tiếng, William Shakespeare còn là một nhà kinh doanh giàu có nhờ các cổ phần khai thác bằng các đoàn kịch. Năm 1597, William Shakespeare đã mua được tòa nhà New Place, một trong hai kiến trúc lớn nhất của thị xã Stratford. Năm 1599, Shakespeare cùng với 6 người hùn cổ phần, đã mua lại Rạp Hát “Hoàn Cầu” (The Globe) tại ngoại ô của thành phố London. Đây là rạp hát mới, loại ngoài trời, rất rộng lớn, có thể chứa tới 3,000 khán giả.

Năm 1603, Nữ Hoàng Elizabeth I qua đời. Nối ngôi là một người trong họ của Nữ Hoàng, là Vua James VI của xứ Tô Cách Lan (Scotland). Khi lên làm vua nước Anh, James VI trở thành James I và nhà vua này rất ưa thích sân khấu nên đã trợ giúp các đoàn kịch. Vua James I cũng cho phép đoàn kịch của Shakespeare được trình diễn trong triều đình vì vậy đoàn kịch này trở thành “The King’s Men” hay “Đoàn Kịch của Nhà Vua”, một loại người giúp vui chuyên nghiệp cho Triều Đình Anh. “The King’s Men” đã thực hiện được nhiều thành công và là đoàn kịch dẫn đầu của thành phố London. Trong các năm từ 1599 tới 1608, William Shakespeare đã hoạt động tích cực, đã viết ra nhiều hài kịch và hầu như tất cả bi kịch, do đó danh tiếng của ông đã vang lừng. Năm 1609, một nhà xuất bản tại thành phố London tên là Thomas Thorpe đã cho ra đời một cuốn sách có nhan đề “Các bài thơ Sonnet của Shakespeare”. Cuốn này gồm hơn 150 bài thơ loại 14 câu mà Shakespeare đã làm trong nhiều năm. Vào 8 năm cuối đời, William Shakespeare đã viết 4 vở kịch là Cymbeline, Henry VIII, “Bão Tố” (the Tempest) và “Câu chuyện của Mùa Đông” (the Winter ‘s Tale). Vào ngày 10 tháng 2 năm 1616, người con gái nhỏ của William Shakespeare tên là Judith, lập gia đình với Thomas Quiney, con trai của một người hàng xóm. 6 tuần lễ sau đó, Shakespeare viết di chúc rồi trong vòng một tháng, ông qua đời và được chôn tại nghĩa trang của nhà thờ Stratford. 7 năm về sau, tức là vào năm 1623, các tác phẩm lừng danh của Đại Văn Hào William Shakespeare bắt đầu được in thành sách và được phổ biến.

westminster_abbey

2/ Bối cảnh xã hội của thời Shakespeare.  

Các tác phẩm của William Shakespeare đã phản ảnh các hoàn cảnh văn hóa, xã hội và chính trị của thời đại Elizabeth I. Vào cuối thế kỷ 16 tại nước Anh, phần lớn dân chúng vẫn còn tin tưởng vào các hồn ma, các mụ phù thủy và các nhà quỷ thuật (magicians). Không có tài liệu nào chứng tỏ Shakespeare có các niềm tin như thế nhưng Đại Văn Hào Shakespeare đã dùng các dị đoan trong các tác phẩm của ông một cách hữu hiệu như hồn ma đóng vai trò quan trọng trong các vở kịch Hamlet, Julius Caesar, Macbeth và Richard III, các mụ phù thủy là những nhân vật chính trong vở kịch Macbeth, và Prospero là một nhà quỷ thuật trong vở kịch “Bão Tố” (The Tempest).

Vào thập niên 1580, thành phố London với dân số vào khoảng 150,000 người, đã trở nên một nơi thị tứ sầm uất của châu Âu. Trên giòng sông Thames đã có hàng ngàn con tầu buôn xuôi ngược và đôi khi Con Phà Hoàng Gia (the Royal Barge) rực rỡ cũng xuất hiện trên giòng sông này. Cây Cầu London (the London Bridge) cũng là nơi danh tiếng với trên đầu cầu về phía nam có Tháp London (the Tower of London), nơi hay trưng bày các đầu lâu của những kẻ bị xử tội phản bội và đây là dấu tích của cảnh bạo lực thuộc Thời Đại Nữ Hoàng Elizabeth I. London có hơn 100 nhà thờ mà danh tiếng nhất là ngôi giáo đường St. Paul cổ kính. Ngoài ra về phía tây, còn có Inns of Court là một trường đại học đào tạo các luật sư, còn có Lâu Đài Hoàng Gia Whitehall (the Whitehall Royal Palace) và Cung Điện Westminster.đã bị tan tác vào năm 1588. Cảnh thịnh vượng, sang trọng của triều đình Anh là dấu hiệu về quyền lực của Triều Đại Elizabeth I.

Trong Thời Đại Elizabeth I, Văn Chương đã phát triển. Triều Đình Anh đã trợ cấp cho các nhà văn, nhà thơ khi viết ra các tác phẩm. Một số nhà văn quý tộc như Sir Walter Raleigh, Sir Philip Sidney… cũng sáng tác ra các áng văn thơ phản ánh vẻ rực rỡ của triều đại, đồng thời các nhà thơ có nguồn gốc bình dân cũng được bảo trợ như Christopher Marlowe, Edmund Spencer và Michael Drayton. Trong hoàn cảnh kinh tế, xã hội này, ngành Kịch Nghệ đã phát triển và bắt nguồn từ hai chiều hướng. Chiều hướng thứ nhất hoàn toàn thế tục, bình dân, kể lại các truyền thuyết cổ, các câu chuyện trong Thánh Kinh, các mẩu chuyện Lịch Sử cổ kim, còn loại thứ hai do các sinh viên của Trường Inns of Court, họ là các cựu sinh viên của Viện Đại Học Oxford hay Cambridge, đã từng hiểu biết Lịch Sử và Kịch Nghệ của các Thời Đại Hy Lạp, La Mã. Sự phối hợp nền văn học cổ điển với loại sân khấu bình dân hiện đại đã cho ra đời vào năm 1587 các vở kịch xuất sắc như “Tamburlaine” của Christopher Marlowe, hay “Bi Kịch Tây Ban Nha” (the Spanish Tragedy) của Thomas Kyd…

Về môi trường sống, thành phố London vào năm 1600 có độ 200,000 dân. Theo các tiêu chuẩn hiện nay thì thành phố này rất đông người và thiếu vệ sinh, nhưng do là thủ đô của nước Anh, London đã thu hút đủ mọi loại người tới đây tìm các cơ hội thăng tiến : các quan chức, thầy giáo, nghệ sĩ, nhạc sĩ, sinh viên… và các nhà văn. Việc dấn thân sâu xa vào đời sống của thành phố London của William Shakespeare đã khiến ông hiểu biết rất rộng rãi, nhờ đó ông đã tạo ra được nhiều nhân vật đa dạng trong các vở kịch.

Vào cuối thế kỷ 16, khi Shakespeare bắt đầu viết các kịch bản, người dân nước Anh mang vẻ lạc quan. Năm 1588, nước Anh vừa chiến thắng Hạm Đội hùng hậu Armada của Tây Ban Nha, tinh thần ái quốc của người dân Anh lên cao. Qua đầu thế kỷ 17, khi Nữ Hoàng Elizabeth I qua đời vào năm 1603, tại nước Anh đã xuất hiện nhiều vấn đề kinh tế và xã hội, các cuộc chiến nhỏ với vài nước khác đang diễn ra, các bệnh dịch lan tràn, giết hại hàng trăm người. Đời người trở nên bị đe dọa, ngắn ngủi. Các vụ xáo trộn chính trị đã gây nên nhiều pháp trường với cảnh chặt đầu các kẻ phản bội, cảnh treo cổ các phạm nhân nơi công cộng. Vì thế các kịch bản của William Shakepeare cũng phản ảnh sự thay đổi, từ lạc quan sang bi quan. Các hài kịch không còn thấy xuất hiện mà thay vào là các bi kịch như vở “Measure for Measure” (Mạt cưa, mướp đắng) hay vở “All’s Well that Ends Well” (Cây lành cho quả ngon). Bi kịch “Vua Lear” đã là một tiếng kêu trong thất vọng.

Nền văn chương của Thời Đại Elizabeth I phản ảnh các cảnh bạo lực (violence) hay cảnh chết chóc nên đồng thời, các bi kịch của Shakespeare cũng hàm chứa các cảnh tự sát hay giết người của các nhân vật chính trong kịch. Nhưng, dù cho mang đặc tính tàn bạo, người dân của thời đại này vẫn nhậy cảm đối với vẻ đẹp và thơ mộng. Văn Chương đã mang nhiều hình thức, kể cả kịch thơ (poetic drama), chuyện giả tưởng và các bài tham luận (essays). Người dân nước Anh vẫn yêu thích Âm Nhạc với các nhạc sĩ tài danh của nước Anh đứng ngang hàng với các nhạc sĩ của châu Âu. Âm Nhạc dùng các nhạc cụ, các bài hát và các bài nhẩy múa là ba yếu tố quan trọng trong các vở kịch của Thời Đại Elizabeth I.

Cho tới năm 1576, các diễn viên kịch nghệ chưa có các rạp hát cố định, họ trình diễn trong các ngôi nhà lớn của thành phố. Do Nữ Hoàng ưa thích các vở kịch từ đầu thập niên 1570 nên các diễn viên được nâng đỡ và các rạp hát bắt đầu được xây dựng. James Burbage vốn là một thợ mộc, đã trở thành một diễn viên và mở ra rạp hát “The Theatre” vào năm 1576 tọa lạc tại vùng đông bắc của thành phố London. Một rạp hát thứ hai tên là “The Curtain” được xây dựng vào năm 1577. Tại bờ phía nam của giòng sông Thames, vào năm 1587 Philip Henslowe đã dựng nên rạp hát thứ ba tên là “The Rose Theater” (Rạp Hát Hoa Hồng) rồi rạp hát thứ tư “The Swan Theater” (Rạp Hát Con Thiên Nga) mở cửa vào năm 1596. Cho tới năm 1596, William Shakespeare cư ngụ tại Bishopgate, gần các rạp hát và đã theo một trong các công ty kịch nghệ từ trước năm 1594. Các rạp hát ban đầu là các tòa nhà bằng gỗ, hình tròn, ở giữa là một sân rộng và khán giả (gọi là groundlings) đứng tại sân coi hát. Nếu chịu mua vé đắt tiền hơn, khán giả có thể ngồi trên 3 khán đài (galleries) có mái che nắng và che mưa. Vào thời kỳ đó, khán giả là loại người bình dân, thường uống rượu, nói năng ồn ào và có cử chỉ thô tục khi coi hát. Người viết kịch có tài thỉnh thoảng phải xen vào các pha khôi hài để làm cho khán giả vui thích. Các buổi trình diễn thường được tổ chức vào ban ngày, khi thời tiết tốt và để báo cho dân chúng quanh vùng biết có đoàn hát tới trình diễn, một lá cờ được kéo lên trên đỉnh tháp của rạp hát. Trên sân khấu của rạp hát vào thời đó, không có màn, không có phông cảnh, trên mái có vẽ các ngôi sao tượng trưng cho bầu trời và từ phần lầu của rạp hát (gọi là heavens) có thể hạ xuống sân khấu một thiên thần ngồi trên một cái ghế buộc bằng các sợi dây thừng. Rạp hát cũng có phần dưới sân khấu (gọi tên là hell) nhờ đó một diễn viên có thể xuất hiện hay biến đi khi vở kịch đòi hỏi. Mặc dù thiếu cảnh trí, sân khấu thời đó cũng dùng tới các dụng cụ phụ như bàn, ghế, ngai vàng, gươm súng, cờ xí, lều … Cũng có kèn, trống và các nhạc cụ khác. Tiếng sấm được tượng trưng bằng tiếng động do lăn mạnh các trái cầu bằng sắt. Có khi một khẩu đại bác bắn ra mà không có đạn, gây nên tiếng nổ lớn nhưng cũng dễ gây ra hỏa hoạn. Khi một vở kịch được trình diễn, một chậu cây tượng trưng cho một khu rừng và đôi khi có một người cầm một tấm bảng viết hàng chữ như “tại một khu rừng gần thành phố Athens”, hay một diễn viên bước ra sân khấu và nói lớn “nơi đây là khu rừng Arden”. Y phục của các diễn viên thời đó cũng khá lịch sự. Theo tục lệ, các nhà quý tộc khi qua đời, thường để lại các y phục cho kẻ hầu trung thành và những người hầu này đã bán loại quần áo đó cho đoàn hát. Vào thời đại Nữ Hoàng Elizabeth I, các vở kịch thường hay trình bày cảnh giết người nên diễn viên đeo sẵn một bọc máu heo bên trong áo ngoài nhờ đó khi nạn nhân bị đâm, mới có cảnh đổ máu trông giống như thực.

Cũng vào thời đại Nữ Hoàng Elizabeth I, Thanh Giáo (the Puritans) là nhóm tôn giáo có thế lực mạnh nhất. Họ rất nghiêm khắc về vấn đề đạo đức và cho rằng các vở kịch chỉ trình bày các cảnh tội lỗi, không thánh thiện, các rạp hát là nơi tụ họp của đám đông thiếu kỷ luật và các tội phạm. Cũng do ảnh hưởng của nhóm Thanh Giáo, các rạp hát chỉ được xây dựng bên ngoài biên giới của thành phố London và họ muốn chấm dứt hoạt động của các đoàn kịch nhưng Nữ Hoàng Elizabeth I và một số quan đại thần lại ưa thích kịch nghệ và đã bảo vệ các diễn viên. Do một đoàn kịch được một nhà quý tộc bảo trợ nên họ có tên là “The Admiral ‘s Men” (Các người của Ngài Đô Đốc) hay “Lord Chaimberlain ‘s Men” (Các người của Hầu Tước Chaimberlain), và đôi khi chính Nữ Hoàng cũng có các diễn viên riêng, được gọi là “The Queen ‘s Men” (Các người của Nữ Hoàng). Tên của người bảo trợ từ đó đi theo đoàn kịch khi họ trình diễn tại các rạp hát hay khi họ đi lưu diễn tại các tỉnh. Mỗi đoàn kịch thường gồm 12 người đàn ông vừa là diễn viên, vừa chung cổ phần với nhau trong nhiều năm và cũng có các trẻ em học nghề, các người phụ việc. Thời đó, phụ nữ không được làm diễn viên và vai đàn bà do các em trai đóng nhờ giọng nói thanh và không có râu. Đoàn hát cũng mướn các nhạc công và các vở kịch với cốt truyện hất dẫn, với các bài thơ hay, được viết ra do những người có học, hay nhóm nhân tài, được gọi tên là “The University Wits” (các bậc trí thức đại học). Nhà viết kịch danh tiếng nhất thời bấy giờ là Christopher Marlowe.

Thời gian sáng tác ra các vở kịch của William Shakespeare được chia thành 4 giai đoạn : (1) các năm cho tới 1594, (2) các năm từ 1594 tới 1600, (3) các năm từ 1600 tới 1608 và (4) giai đoạn cuối cùng là thời gian sau năm 1608. Giai đoạn sáng tác thứ nhất của William Shakespeare là thời kỳ học nghề, vào tuổi từ 26 tới 30. Shakespeare đã dựa theo các hài kịch và bi kịch La Mã, đặc biệt là loại bi kịch của Seneca (Senecan tragedy) hay “bi kịch có máu” (tragedy of blood), đã bắt chước văn phong của các nhà viết kịch thời trước và đương thời, và có thể tác giả cũng cộng tác với Christopher Marlowe. Các vở kịch của giai đoạn này nhấn mạnh tới các biến cố (events) hơn là diễn tả hình ảnh và nội tâm của các nhân vật.

Giai đoạn sáng tác thứ hai của William Shakespeare nổi danh vì các vở kịch như “Romeo và Juliet”, “Người lái buôn thành Venice” (the Merchant of Venice), và “Vua Henry IV”, với vở hài kịch xuất sắc tên là “Giấc Mộng Đêm Hè” (A Midsummer Night ‘s Dream). Văn phong của William Shakespeare trưởng thành, hàm chứa sức mạnh và chứng tỏ thiên tài của tác giả do các vở kịch vui tươi, châm biếm các mối tình lãng mạn, với nhiều bài thơ mô tả xúc tích.

Vở kịch “Hamlet” viết vào khoảng năm 1601, mở đầu cho giai đoạn thứ ba. Trong 8 năm, William Shakespeare đã thăm dò các điều ác, và thế giới của kinh hãi được trình bày bằng các bi kịch lớn vì tác giả đã bi quan trước các tư tưởng tuyệt vọng của con người, trước các hoàn cảnh đau thương của xã hội. Trong giai đoạn thứ tư và cũng là giai đoạn cuối cùng, William Shakespeare dùng tới một thể văn mới, đó là bi hài kịch (the tragicomedy) hay tình yêu lãng mạn bi thương (dramatic romance). “Bão Tố” (The Tempest) có lẽ là vở kịch hay nhất của thời kỳ này, đã kết hợp cả sức mạnh và sự khôn ngoan.

Các tình tiết, cốt truyện và tâm lý các nhân vật trong các vở kịch chứng tỏ William Shakespeare là một người uyên bác, hiểu rõ về con người, biết phối hợp kỹ thuật kịch với khả năng thơ phú, tất cả đã khiến cho ông trở nên nhà viết kịch bậc nhất (the greatest of playwrights). Nghệ thuật của William Shakespeare thì hiện thực (realistic), tức là hàm chứa sự thực của đời người và đây là sự thực mang tính vĩnh cửu (eternally true). Các nhân vật trong các vở kịch vừa sống động, vừa có tính ba chiều, họ có thể là tốt, là xấu, cao cả hay tầm thường, và gồm đủ mọi hạng người : các vua chúa, quan lớn, nhân viên hàng giáo phẩm, các kẻ gian tà, mơ mộng, điên khùng, các kẻ hoạt động… nam cũng như nữ, quê cũng như tỉnh… Cách mô tả các anh hùng của Shakespeare thực là tuyệt vời, và ngay cả các nhân vật phụ cũng thế, chẳng hạn như 20 phụ nữ trẻ trong các vở kịch đã được tạo dựng nên với tuổi tác gần bằng nhau, gần có cùng quá trình xã hội, gần có cùng lối sống bên ngoài, nhưng 20 phụ nữ này lại khác hẳn nhau trong đời thực. Các vở kịch của William Shakespeare đã làm cho khán giả coi kịch bị xúc động mạnh, đã gây ảnh hưởng sâu xa tới độc giả khiến họ phải đọc lại các kịch bản nhiều lần, thí dụ như vở kịch “Vua Lear” được coi là bi kịch bậc nhất của Shakespeare.

Cuộc đời của William Shakespeare đã không có các biến cố đáng kể. Shakespeare là một con người chăm chỉ, điều độ, thuộc giai cấp trung lưu, biết chăm lo gia đình và chịu khó kinh doanh. Nhiều người đã tin rằng một người với cuộc đời bình thường như vậy, với thời gian đi học ngắn ngủi như vậy, không thể viết ra được các vở kịch xuất sắc, không thể có được chiều sâu tư tưởng, làm sao biết được ngôn từ và các tư cách của giai cấp thượng lưu, không thể biết được các môn thể thao, săn bắn của giới quý tộc … Vì thế kể từ các năm 1800, đã có một số người không chịu tin tưởng rằng “người diễn viên của thị xã Stratford” là tác giả thực sự của các vở kịch lừng danh. Những người không chịu tin này được gọi là “anti-Stratfordians” và họ đã đề nghị vài nhà văn khác của thời đại Nữ Hoàng Elizabeth I, là tác giả đích thực, bởi vì các tác phẩm kịch lừng danh phải do một người học cao, uyên bác, thuộc giai tầng thượng lưu.

Trong nhiều năm và cho tới ngày nay, nhân vật được đề nghị là Sir Francis Bacon. Đã có rất nhiều sách vở viết về đề tài tranh luận này. Sau Sir Bacon là Edward de Vere hay Hầu Tước Oxford thứ 7, được cho là tác giả không chịu đứng tên. Ngoài ra còn có các nhân vật được đề nghị khác như Roger Manners, Hầu Tước Rutland thứ 5, William Stanley hay Hầu Tước Derby thứ 6 và ngay cả Sir Walter Raleigh. Và cũng lại có người cho rằng tác giả chính là Christopher Marlowe. Nhưng, biện luận rằng một “con người bình thường của thị xã Stratford” không thể trở nên một “đại văn hào” tức là đã quên đi các điều bí ẩn của một thiên tài! Kiến thức của một thiên tài không phải là thứ học được nơi trường học. Thiên tài học ít, hiểu nhiều, là người biết áp dụng trí tưởng tượng thiên phú, cách nhạy cảm về nghệ thuật, sự hiểu biết sâu rộng về con người vào các sáng tạo và đã từng có một số nhà văn danh tiếng mà học vấn còn thấp hơn William Shakespeare. Hơn nữa, có vài người quen biết William Shakespeare như Francis Meres vào năm 1598 và Ben Jonson vào năm 1623, đã vài lần xác nhận William Shakespeare là một nhà văn có tài trong số các nhà văn thường hay tụ họp tại quán rượu Mermaid (the Mermaid Tavern) và William Shakespeare đã được nhiều người khác nể trọng vì tài năng, yêu mến vì lòng tử tế.

3/ Giới thiệu Sơ lược những tác phẩm:    

A. Bi hài kịch Bão tố (*)

1/ Các nhân vật và vài chi tiết.

Loại truyện: bi hài kịch hay chuyện tình.
Thời điểm: Thế kỷ 15.
Địa điểm: một hòn đảo giữa biển.
Lần đầu tiên trình diễn: 1611.
Lần đầu tiên xuất bản: 1623.

Các nhân vật chính: Prospero, bá tước chính thức của thành Milan; Miranda: con gái của Prospero; Ariel: thần linh, phục tùng Prospero; Caliban: nô lệ của Prospero; Antonio: bá tước của thành Milan, em của Prospero; Alonso: vua xứ Naples; Ferdinand: con trai của Alonso; Sebastian: em của Alonso; Gonzalo: nhà triết học đã cứu sống Prospero và Miranda.

2/ Câu chuyện.

Ngày xưa tại kinh thành Milan có bá tước Prospero là người biết pháp thuật (a magician) lại rất yêu thích sách vở. Ông ta đã bỏ nhiều giờ mỗi ngày để đọc nghiền ngẫm các cuốn sách lạ, phủ bụi, mà quên đi việc cai trị kinh thành Milan, giao quyền hành này cho người em tên là Antonio. Sau nhiều năm trường nắm quyền, Antonio cho rằng chính mình mới thực là bá tước của kinh thành, nên đã liên lạc với vua xứ Naples tên là Alonso, một kẻ thù của Prospero. Cả hai người này âm mưu ám hại bá tước Prospero.
Vào một đêm tối đen, Antonio đã mở cổng thành cho lực lượng của vua Alonso lẻn vào. Prospero và đứa con gái nhỏ Miranda được đưa đi trốn bằng một con thuyền mỏng manh, rò nước. Trong cảnh bất hạnh này, cha con Prospero còn gặp được một điều may mắn, là một người bạn của bá tước đã bí mật lén dấu trong thuyền không những thức ăn, nước uống, mà cả quần áo đẹp và một quyển sách pháp thuật. Hai cha con gặp nạn này đã trôi giạt trên biển khơi trong nhiều ngày nóng nực và nhiều đêm tối đen, và trong cảnh huống cô đơn này, chỉ có nụ cười thơ ngây của Miranda là khiến cho bá tước Prospero không bị tuyệt vọng. Rồi cuối cùng vào một buổi chiều, ngọn gió lành đã đưa con thuyền mỏng manh giạt vào một hòn đảo xa lạ, nhiều ma quái.

Bước lên bờ, Prospero tìm chỗ ẩn náu rồi khi màn đêm phủ xuống, bá tước nghe thấy các tiếng kêu ai oán, lạ lùng, xuất phát từ trong khu rừng rậm. Cõng đứa con gái nhỏ trên lưng, Prospero đi tìm ra nơi có tiếng kêu than. Ở tận bên trong rừng sâu, bá tước nhận thấy có một cây thông bị sét đánh gẫy làm hai nhiều năm về trước. Có vẻ như tiếng kêu than xuất phát từ thân cây này. Prospero coi kỹ phần thân cây gẫy bị cháy đen rồi cầm nơi tay cây gậy pháp thuật, ông ta đọc mấy câu thần chú. Ngay lập tức trong không gian gần đó hiện ra một thần linh. Prospero ra lệnh: “Hãy nói đi, thần linh, cho ta biết tên và tại sao mi bị vướng mắc vào nơi này”. Thần linh lấy hơi, vươn mình lên khoảng không rồi nói: “Tôi là Ariel, bị cột vào thân cây này do mụ phù thủy tên là Sycorax khi tôi từ chối làm điều ác theo lệnh của mụ ta. Sau đó không lâu, mụ ta qua đời, để lại tôi vướng mắc vào cạm bẫy này trong 12 năm rồi”. Prospero nói: “Ta thả mi ra nhưng mi có sẵn lòng phục vụ ta không? Mi sẽ thấy rằng ta không bắt mi phải làm các điều độc ác”. Ariel đồng ý làm theo lời đòi hỏi của bác tước và được giải thoát khỏi thân cây thông nhưng ngay sau đó, xuất hiện một con quỷ dị hình, lông lá đây mình, gầm rú trong đêm tối.
Dùng cây gậy pháp thuật chỉ vào con quái vật đang xông tới, Prospero ra lệnh: “Quái vật, dừng lại!”, rồi trong ánh sáng yếu ớt, bá tước xem xét con quỷ ghê tởm này. “Ariel, mi biết gì về con quái vật này không?”. Ariel nói nhỏ vào tai bá tước: “Đây là đứa con của mụ phù thủy Sycorax. Mụ ta phục vụ cho chúa quỷ tên là Setebos cho tới khi bị đuổi vì các hành động quá độc ác của mụ. Mụ Sycorax trốn ra hoang đảo này và đẻ ra con quái vật mà ông đang nhìn thấy trước mắt. Tên của nó là Caliban và nếu ông lưu tâm tới lời tôi cảnh cáo, thì hãy quăng nó xuống biển cho xong việc”. Nhưng Prospero cũng là một con người bị lưu đầy, nên không nỡ tâm làm điều tàn ác như thế. Bá tước nói: “Để ta thử thuần hóa con vật man rợ này”.

Kể từ nay, bá tước kiêm nhà pháp thuật, cô con gái nhỏ, thần linh Ariel và con quỷ bất hạnh sống chung tại một nơi trú ẩn trên hòn đảo ma quái. Do sự chỉ dẫn của Caliban, Prospero đã tìm ra một hang khá rộng, khô ráo, gồm nhiều phòng. Dùng pháp thuật, bá tước đã làm thay đổi nơi này thành chỗ cư trú tiện nghi, an toan, để đọc sách và nuôi dạy cô con gái.

Khởi đầu Prospero đã đối xử với con quỷ một cách tử tế nên Caliban tỏ lòng biết ơn bằng cách cho biết nơi nào có nhiều trái cây ngon, nơi nào chứa nước uống trong sạch. Cô gái Miranda cũng thương hại con quỷ, đã bỏ ra nhiều thời giờ dạy nó biết nói nên sau một thời gian Caliban có vẻ thay đổi. Nhưng sự phục thiện của con quỷ không kéo dài được lâu, nó ghen tức với tấm lòng thương yêu mà Prospero giành cho cô con gái nhỏ, nó định ám hại Miranda nên bị đuổi khỏi hang và bị bắt làm các công việc thấp hèn. Vì vậy nỗi lòng oán hận bá tước trong lòng con quỷ Caliban mỗi ngày một gia tăng.

Miranda xa lánh dần con quái vật. Với sự che chở của Ariel, cô bé lớn dần, quen chơi đùa trên bờ biển hay chạy nhẩy trên các tảng đá, lân la vào nơi ven rừng. Vào mỗi đêm, cô được cha dạy cách đọc sách, được nghe kể lại nhiều câu chuyện lạ, hấp dẫn. Nhưng trong hoàn cảnh bao che, Miranda bắt đầu cảm thấy cô đơn, cần có người bạn cùng lứa tuổi. Trong thời gian này, bá tước Prospero tiếp tục đọc sách và tài năng pháp thuật của ông cũng tăng thêm. Ông ta vẫn còn bị ám ảnh bởi trí nhớ về người em phản bội và về chức quyền tại kinh thành Milan.

Sau 12 năm sống trên hoang đảo, Miranda đã trở thành cô gái 14 tuổi xuân, xinh đẹp như một bông hồng mới nở. Rồi vào một buổi chiều khi đang dạo chơi trên bờ biển, cô thiếu nữ nhìn thấy một vật lạ xuất hiện ở chân trời. Sau một hồi lâu, cô mới biết rằng đó là một con tầu. Trèo lên mỏm đá cao, Miranda nhìn ra biển rộng, nhủ thầm trong lòng lời cầu mong “con tầu ơi, hãy ghé lại nơi đây!”. Nhưng có vẻ như con tầu đi xa dần, không hướng về hòn đảo.

Trong lúc đang thất vọng vì bóng dáng con tầu khuất dần nơi xa xa, bỗng một cơn bão tố lớn nổi lên. Nhiều lằn chớp chói lòa cắt ngang bầu trời. Sóng cao đang xô đẩy con tầu tròng trành như sắp lật úp. Miranda nghe được nhiều tiếng kêu than của các người trên tầu dù cho gió mạnh gào thét. Và cô thiếu nữ cũng nghe thấy một tiếng hét khác, giận dữ và tàn bạo, phát ra rất gần nơi cô đứng. Quay đầu lại, cô thấy cha đang đứng trên một tảng đá cao hơn, tay cầm cây gậy pháp thuật chỉ lên trời cao, đôi mắt dữ tợn. Miranda quỳ xuống chân của cha cô, năn nỉ “Cha ơi, nếu do pháp thuật mà cha đã khiến cho nước biển nổi sóng dữ dội thì con xin cha hãy rủ lòng nhân từ. Tâm hồn con thương xót các linh hồn bất hạnh trên con tầu kia”.

Bá tước Prospero lúc này chỉ chú tâm vào pháp thuật, không để tâm tới cô con gái yêu. Miranda lại van xin: “Cha ơi, xin đừng làm hại họ!”. Nhà pháp thuật vẫn còn vung cây gậy, chỉ huy các trận cuồng phong vùi dập con tầu biển xấu số. Lần thứ ba, cô gái vẫn van nài: “Cha ơi, hãy tha cho họ!”. Lúc này, bá tước Prospero mới ngừng tay và nói: “Thôi”. Ngay sau đó, mặt biển trở lại yên tĩnh. Cô gái Miranda quay sang tìm kiếm con tầu, xem nó đã được an toàn chưa, nhưng tất cả đã biến mất.

Prospero an ủi con: “Đừng hoảng sợ, cha hứa với con rằng không một ai trên con tầu đó bị tổn hại cả”. Miranda bèn hỏi: “Nhưng tại sao cha đã hành động dữ tợn như vậy?”. Bá tước đã ngập ngừng, rồi qua tiếng thở dài, ông đã kể lại cho con gái nghe câu chuyện buồn vì bị phản bội và bị lưu đầy. “Cha phải làm tất cả những gì cần làm. Do pháp thuật, cha biết rõ ai đang ở trên con tầu kia – người em trai đã phản bội cha và nhà vua đã đồng lõa với nó. Đây là cơ hội cha phải trả mối hận thù. Miranda thương yêu, hãy ngủ đi con!”. Bằng một câu thần chú, bá tước làm cho cô con gái yêu ngủ say rồi sau đó gọi thần linh Ariel lại và hỏi: “Hãy kể cho ta nghe mọi sự việc đã qua”. Ariel bay trong làn gió, nói nhỏ vào tai Prospero: “Thưa ông chủ, tôi đã làm theo ý muốn của ông. Tôi đã khiến cho vài người nhẩy xuống biển đang nổi sóng, vài người khác nấp dưới sàn tầu. Nhưng tất cả đều được an toàn theo như lệnh của ông”.Prospero hỏi: “Còn con tầu thì sao?” – “Nó đậu tại phía xa của hòn đảo, nơi an toàn và khô ráo, và các thủy thủ chìm vào trong giấc ngủ huyền bí. Các người khác trên tầu bị phân tán xa nhau nơi bờ biển, nhà vua xa cách con trai, ai cũng tưởng rằng người kia đã chết đuối, mọi người đều than khóc thảm thương”.
Bá tước nói: “Hôm nay mi đã làm việc giỏi nên mi sẽ được tự do như làn gió thoảng. Bây giờ mi hãy tàng hình và dẫn đứa con trai của nhà vua lại chỗ nghỉ của ta và con gái ta”. Thần linh Ariel bèn cưỡi gió, bay tới nơi bờ biển mà hoàng tử Ferdinand đang ngồi than khóc vì mất cha. Bay vòng quanh hoàng tử, Ariel bắt đầu thổi lên một điệu nhạc buồn, cám dỗ. Nghe thấy tiếng nhạc, hoàng tử đứng dậy và kêu lên: “Tiếng nhạc này từ đâu tới vậy?”. Ariel tiếp tục chơi nhạc. Bị lôi cuốn bởi tiết điệu u buồn, Ferdinand đã đi theo theo thần linh tàng hình, băng qua rừng sâu, vào trong hang động của Prospero. Ngoài cửa hang, Miranda đang ngồi chải tóc.

Lòng thật buồn vì thương nhớ cha, hoàng tử Ferdinand bị ngạc nhiên khi nhìn thấy người thiếu nữ trẻ đẹp, bèn hỏi nhỏ: “Có phải cô là nữ thần đã phát ra điệu nhạc lạ lùng không?”. Miranda nhẹ nhàng trả lời: “Thưa chàng, tôi chỉ là một người con gái tầm thường”, và nàng hân hoan khi nhìn thấy một chàng trai tuyệt vời, khác hẳn cha nàng và Caliban.

Từ trong hang, Prospero nhìn ra và thấy rõ cảnh ngộ. Bá tước cũng vui mừng bởi vì dự định của ông là khiến cho hai người trẻ này sẽ thương yêu nhau. Nhưng ngay sau đó, Prospero đã do dự. Miranda và Ferdinand không thể yêu nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng như vậy. “Tình yêu vội vã không thể bền lâu”. Bá tước nói nhỏ “Mối tình này phải gặp trở ngại để có thêm sức mạnh”. Vì vậy ông bước ra khỏi hang và thét hỏi chàng trai: “Anh là ai mà dám quấy rầy con gái của ta?”.Miranda bèn kêu lên: “Cha ơi, tại sao lại giận dữ như thế?”. – “Hãy im đi con. Tôi hỏi lại, anh là ai?”. Ferdinand buồn rầu trả lời: “Tiếc thay, tôi là vua của xứ Naples”. Prospero bật cười và nói: “Là vua hả? anh chỉ là một người thường dân”. Ferdinand đáp lại: “Cha tôi là vua, đã bị thất lạc trong cơn bão tố. Do tổn thất này, tôi đoạt vương niệm”.

Mặc dù câu trả lời đã làm cho bá tước vui lòng nhưng ông ta chưa để cho Ferdinand thoải mái. “Tôi cho rằng anh là giả, tới đây để chiếm đoạt hòn đảo của ta và cô con gái của ta. Giờ đây anh phải là kẻ phục tùng của ta”. Ferdinand rút gươm ra và la lên: “Nhà vua xứ Naples không phục tùng ai cả”. Prospero bèn dùng ngón tay, chỉ vào cây gươm của Ferdinand khiến cho nó trở thành quá nặng và hoàng tử không thể nhấc nó lên nổi. Rồi nhà pháp thuật chỉ cho hoàng tử thấy một đống củi lấm bùn và ra lệnh mang củi vào trong hang động. Bá tước cho rằng làm như vậy sẽ khiến cho Ferdinand nhận biết rằng chiếm được Miranda không phải là một công việc dễ dàng.

Sau khi đã sai bảo hoàng tử, Prospero bèn gọi thần linh Ariel và nói: “Bây giờ hãy dẫn ta tới gần các kẻ thù của ta”. Vào lúc này trên bờ biển, nhà vua và các người khác đang đi tìm dấu vết của Ferdinand. Khi tin tưởng rằng hoàng tử đã bị chết đuối, vua Alonso than khóc. Prospero cũng nghe thấy mọi người than đói nên bảo các thần linh của hòn đảo dọn ra một bàn tiệc bày nhiều thức ăn hấp dẫn. Mùi hương thơm ngào ngạt từ các đĩa thức ăn bay tràn trong không gian khiến cho bọn người kia thèm thuồng. Nhưng trước khi họ cầm thức ăn lên thì thần linh Ariel sà xuống mặt bàn, hóa thành một con quỷ có cánh. Bọn người đắm tầu giật mình, lùi lại. Con quỷ bèn vỗ cánh khiến cho tất cả thức ăn trên bàn biến mất. Ariel la lên: “Này, các người phạm tội”, rồi chỉ vào nhà vua và người em của bá tước Prospero: “Bây giờ các người hãy nhớ lại tội ác ngày trước của các người chống lại Prospero, bá tước thành Milan và cô gái Miranda. Hãy nhớ tới tội ác và hãy ăn năn”.

Ngạc nhiên trước sự việc con quỷ có cánh biết rõ quá khứ của mình, vua Alonso và Antonio quỳ xuống đất, khóc than vì sợ hãi. Prospero rất vui lòng trước cảnh huống này. Ariel trở lại bên Prospero và bá tước nói nhỏ với thần linh: “Bây giờ mi hãy bay và xem Caliban đang làm gì, để ta coi chừng Ferdinand và Miranda”.

Ariel đã nhìn thấy Caliban đi trên bờ biển, nặng nề vác với một khúc gỗ lớn. Bỗng nhiên con quỷ này ngừng lại. Phía trước nó là một người đàn ông ăn mặc kỳ lạ. Sợ rằng đây là một vị thiên thần gửi xuống để trừng phạt nó vì đi chơi lêu lổng, Caliban nằm bẹp xuống đất, chui người nấp dưới tấm vải rách. Nhưng thực ra, đây chỉ là anh hề Trinculo. Anh hề này còn rối trí vì mới thoát khỏi cảnh chết đuối. Anh ta ngã vào Caliban rồi kêu lên: “Đây là con người hay con cá? Thật gớm ghiếc, một con cá vì mùi tanh quá”. Một hồi sấm nổ vang trên bầu trời đen đặc. Trinculo kêu lên: “Nếu một cơn bão tố nữa xẩy ra như lần vừa qua, ta sẽ bị chết đuối khi đang đứng đây”, rồi anh ta bò xuống, chui vào tấm vải rách của Caliban để trú ẩn. Cảnh huống này khiến cho Ariel phải cười thầm: “Đây quả là một cặp khác thường”.

Sau đó, anh quản gia Stephano của nhà vua đi tới. Anh ta nổi được trên mặt nước và trôi giạt vào bờ là nhờ một thùng rượu chát. Để an ủi vì đã sống còn, Stephano uống nhiều rượu đến nỗi mất cả trí khôn. Tới lúc này do vấp ngã vào Caliban và Trinculo vì say rượu, anh ta chỉ biết mình gặp một con quỷ hai đầu. Anh quản gia la lớn: “Đồ khùng, ta không sợ ngươi đâu”, rồi dơ cao ly rượu chát làm bằng vỏ cây. Caliban sợ quá, năn nỉ: “Ôi, thiên thần, đừng hành hạ tôi, tôi thề sẽ mang củi về nhà thật sớm”. Nghe thấy vậy, Trinculo kêu lên: “Nó nói cùng một thứ tiếng với mình”. Trinculo cũng hỏi: “Anh Stephano đấy hả?”. Sau đó cả anh hề và con quỷ cùng gỡ bỏ tấm vải rách ra và Stephano truyền ly rượu chát cho hai kẻ này. Rượu chát thật là tuyệt vời đối với Caliban, nó cho rằng người có rượu này phải là một vị thiên thần. Nó bèn quỳ xuống, hôn chân Stephano và nói: “Tôi nguyện làm đầy tớ của ngài. Tôi sẽ chỉ cho ngài biết kẻ tàn ác đã chiếm giữ hòn đảo này của tôi. Tôi biết khi nào hắn ngủ. Ngài có thể giết hắn và chiếm đoạt cả hòn đảo lẫn cô con gái”.
Khi Stephano đồng ý, Caliban đã nhẩy múa và ca hát, rồi dẫn anh quản gia và anh hề tới hang động của nhà pháp thuật. Ariel đã đưa bọn này vào vũng lầy khiến cho họ bị chậm trễ, trong khi đó bay đến gặp Prospero và báo tin sự nguy hiểm sắp tới.

Trong lúc này Ferdinand phải làm công việc cực nhọc mà Prospero giao phó. Miranda đã khóc lên khi nhìn thấy cảnh này. Cô thiếu nữ bèn tới gần đống củi và kêu lên: “Hãy để em làm việc này thay anh”, nhưng Ferdinand đã trả lời: “Không, bộ mặt dễ thương của em đã làm cho công việc trở thành nhẹ nhàng”. Trong vòng bí mật, Prospero quan sát thấy cảnh làm việc vất vả của Ferdinand mà không than van. Bá tước tin rằng hoàng tử thật sự yêu thương Miranda. Prospero tới gần con gái và nói dịu dàng: “Lại đây con”, rồi ông dẫn Miranda về phía Ferdinand, đặt bàn tay của hai trẻ vào nhau. Bá tước nói với hoàng tử: “Tất cả những gì rắc rối này là cách thử tình yêu của con. Bây giờ ta ban phước lành cho sự đính hôn của hai con”. Rồi ông ta gọi các thần linh trên đảo xuất hiện thành các nữ thần và ban phước lành cho cặp uyên ương tương lai.

Cảnh chúc lành này chưa diễn ra được lâu thì thần linh Ariel đã bay đến, báo tin cho bá tước biết âm mưu của Caliban. Prospero nói: “Tiếc thay, cảnh vui vẻ của chúng ta phải chấm dứt bây giờ”, và ông ta vung cây gậy pháp thuật lên khiến cho các thần linh biến vào không gian, rồi sau đó bảo đôi trẻ lui vào trong hang động.

Prospero tìm cách đối phó với Caliban. Ariel ở bên bá tước và nói: “Kẻ phản bội không bao lâu sẽ dẫn các người kia tới gặp ông”. Prospero bèn nghĩ ra một kế hoạch và bảo Ariel: “Hãy mang lại đây các bộ quần áo đẹp nhất của ta”, rồi bá tước treo lô quần áo này trên các cành cây, gần nơi bãi trống. Khi tới gần bãi đất trống thì Caliban bảo Trinculo và Stephano: “Chớ ngừng tại đây, đầu tiên hãy giết Prospero rồi quần áo đẹp, con gái và hòn đảo sẽ thuộc về các ông”. Nhưng lời khuyên của con quỷ đã không khiến cho hai người kia nghe theo vì họ chưa từng được mặc quần áo đẹp như thế này. Trong khi hai kẻ gia nhân đang thử quần áo thì Prospero ra lệnh cho hai thần linh của hòn đảo hiện thành hai con chó rừng hung dữ, mắt lồi ra, nhe răng nanh đe dọa, khiến cho cả hai tên kia phải bỏ chạy.

Bá tước Prospero tới lúc này mới bảo Ariel dẫn nhà vua và các kẻ tùy tùng tới hang động. Nhà pháp thuật nghĩ tới việc trả mối hận thù xưa. Ông ta mặc áo choàng vào rồi cầm lấy cây gậy quyền thuật nhưng chính vào lúc này, thần linh Ariel trở lại và nói nhỏ vào tai bá tước: “Ông chủ đã nhìn thấy nhà vua và người em phản bội trước kia than khóc vì tội ác mà họ đã từng làm, trái tim của ông không xúc động sao? Một tảng đá phải nứt ra, một thân cây phải chảy nhựa vì thương xót nỗi ăn năn của họ”. Prospero bị ảnh hưởng bởi lời góp ý của Ariel: “Nếu mi chỉ là gió thoảng mà còn biết cảm thông cho những con người này, thì ta đây lại không biết tha thứ hay sao?” Nhà pháp thuật ngồi xuống, cúi đầu suy nghĩ. Ông ta giữ yên lặng một hồi lâu bởi vì không dễ dàng gì đè nén cơn tức giận. Cuối cùng bá tước nói: “Ariel, dẫn bọn họ lại gặp ta”.

Không bao lâu sau đó, nhà vua và các ngươi khác đã đứng trước cửa hang động. Họ ngạc nhiên biết chừng nào khi nhìn tận mắt thấy vị bá tước đích thực còn sống. Họ than khóc và xin tha thứ. Prospero mỉm cười: “Ta tha tội cho các người, tội làm hại ta”. Khi nhà vua và người em Antonio tuyên bố từ bỏ mọi quyền hành của kinh thành Milan thì Prospero nói với nhà vua: “Để đổi lại, ta hoàn trả bằng một sự việc đáng ngạc nhiên” và bá tước kéo tấm màn che cửa hang động, sau đó là cảnh Miranda và Ferdinand đang chơi cờ với nhau.

Miranda là con người chưa từng được nhìn thấy nhiều người khác tụ tập đông đảo như lần này nên sửng sốt, cầm lấy tay Ferdinand và nói nhỏ: “Tại sao lại có nhiều người đáng yêu ở nơi này như vậy? Ôi, một thế giới mới với thật nhiều người”. Chính vào lúc này, nhà vua khóc lên vì sung sướng khi được gặp lại người con trai còn sống sót và hoàng tử Ferdinand chạy ra, ôm lấy vua cha, đồng thời Ariel cũng làm tăng thêm niềm vui cho mọi người bằng cách mang lại con tầu trước kia đã được dấu tại một nơi kín đáo. Cuối cùng, theo mệnh lệnh của Prospero, thần linh Ariel dẫn anh hề Trinculo, anh quản gia Stephano và con quỷ Caliban tới gặp mọi người. Bá tước nói: “Tôi cho rằng hai người kia là của các ông, còn tôi đành nhận lãnh con vật u tối này”. Caliban cũng góp ý: “Kể từ nay tôi sẽ hành động khôn ngoan hơn trước. Tôi thật là ngu xuẩn khi tôn vinh một gã say rượu làm thiên thần”.

Cuối cùng, bá tước Prospero leo lên một mỏm đá cao nhất, ông ta giơ cao cây gậy và cuốn sách pháp thuật rồi ném chúng xuống biển. Thần linh Ariel bèn nhận lấy hai món đồ này, đem chôn tại một nơi an toàn, thật sâu trong lòng đại dương. Sau đó bá tước trả tự do cho Ariel, một nhân vật mà ông ta yêu quý chẳng khác gì cô con gái Miranda.
Khi bình minh trở lại, thần linh Ariel đã mang tới một món quà tặng cuối cùng, đây là các làn gió thuận hòa thổi con tầu mang vị bá tước, hai kẻ đang biết yêu và tất cả những người khác, trở về kinh thành Naples là nơi mà Ferdinand và Miranda sẽ cử hành lễ cưới.

3/ Vài nhận xét.

Vở bi hài kịch “Bão Tố” (The Tempest) được trình diễn trước Vua James I của nước Anh vào ngày 1/11/1611 nhưng trước đó, có thể đã có vài lần ra mắt khác. Nhiều học giả tin rằng Shakespeare đã viết ra 37 kịch bản, nhưng rất khó khăn khi tìm cách xếp hạng các vở kịch này do thiếu các ghi chép về ngày tháng. Tác phẩm đầu tiên do Shakespeare soạn ra là vở kịch Henry VI vào năm 1591, trong khi “Bão Tố” được viết vào cuối quãng đời sáng tác, năm 1611, cùng thời với các tác phẩm Cymberline và The Winter’s Tale (Chuyện Kể vào Mùa Đông).

Giống như nhiều câu chuyện tình khác, “Bão Tố” có thể được coi là một truyện thần tiên, gồm các nhân vật xấu và tốt, gồm một tình yêu trong trắng, không phức tạp và nhiều sự việc xẩy ra một cách lạ thường như trận bão do pháp thuật, các phù phép làm tê liệt kẻ xấu và bảo vệ kẻ tốt, các thần linh huyền bí…

Các vở kịch danh tiếng thường có chủ đích trình bày cuộc đời, đưa ra các hoàn cảnh đại diện mà không cắt nghĩa; vở kịch “Bão Tố” cũng theo cách này, đã cho thấy các ý tưởng, nếu nói một cách đơn giản, là sự tương phản giữa thiên nhiên (nature) và xã hội (society), là các vấn đề phạm tội, chuộc tội và hòa giải. Antonio đã âm mưu chiếm đoạt quyền hành cùng với vua Alonso rồi cả hai đã nhận tội. Alonso đau khổ vì sợ mất đứa con, đã nhớ lại tội phạm của mình và sự hòa giải là đám cưới của Ferdinand cùng người con gái Miranda của Prospero. Tình yêu giữa hai người thuộc giới trẻ này đã xóa đi hận thù của thế hệ trước, đã nói lên rằng sự vô tội và niềm tin của giới trẻ thì mạnh hơn tham vọng và ác tâm của thời đại cũ.

Qua vở kịch, Prospero là một nhà cai trị có từ tâm, không báo thù, đặc biệt đối với người em Antonio mà ông ta coi là phản bội, ám hại mình. Prospero còn là một nhân vật công bằng, chính trực, ngoài đặc tính thông minh, hiểu rộng.

Ariel là thần linh biết từ chối làm điều ác theo lệnh của mụ phù thủy Sycorax. Sự tuân lệnh của Ariel rất quan trọng trong việc biểu lộ lòng nhân đạo của Prospero, giúp công vào sự tha tội, và các hành động của Ariel thật là tương phản với việc làm của Caliban, con quỷ với dự mưu ám hại.

Caliban được diễn tả là một sản phẩm của thiên nhiên, dòng dõi của mụ phù thủy và tội ác. Bản chất của Caliban là vô lễ, nổi loạn, chỉ bị kiềm chế do pháp thuật. Caliban đã hành động mà không suy nghĩ, không hiểu rõ các sự việc xẩy ra và các người chung quanh. Nó tượng trưng cho một đứa trẻ của thiên nhiên, khó giáo dục, hành động như một con vật. Hình ảnh của Caliban có thể là lời bác bỏ ý tưởng cho rằng con người giống như cây cỏ, chỉ có thể phát triển tốt đẹp trong môi trường thiên nhiên.

Miranda là một thiếu nữ mới trưởng thành, ngây thơ, trong trắng, biết vâng lời, chưa từng được biết tới một người đàn bà nào khác ngoài người cha già. Cô gái này có lòng từ tâm đối với những người đi biển trong cơn bão tố. Do bởi sống nơi cô đơn, Miranda không biết tới cách tán tỉnh của Ferdinand bởi vì cô là con người trong sạch, lương thiện và biết yêu.

Giống như Miranda, Ferdinand cũng lương thiện, tử tế, kính trọng cô bạn gái và biết thương yêu cha. Hoàng tử này đã hứa hôn với Miranda khi tin tưởng rằng người cha đã qua đời trong cơn bão tố, nhưng khi gặp lại cha còn sống, Ferdinand chấp nhận ngay uy quyền của cha và báo tin cho cha rõ về mối tình mới. Ferdinand là một con người của danh dự, tương xứng với Miranda do nhiều đức tính.

Alonso là vua của xứ Naples, là người chịu trách nhiệm về tội phạm của Antonio bởi vì nếu không có sự thông đồng của nhà vua thì người em Antonio không dám phản nghịch người anh Prospero. Hình ảnh Alonso đau khổ vì đứa con trai không biết tin tức, rồi hối hận về tội phạm đã làm, cho thấy nhà vua này là người tốt và chính đáng.

Antonio là con người bị thúc đẩy do tham vọng. Dù cho run sợ trước các pháp thuật, Antonio chưa tỏ ra đủ hối hận về hành vi tội phạm trước kia.

Vở bi hài kịch “Bão Tố” lại được trình diễn vào năm 1613 nhân dịp lễ cưới của công chúa Elizabeth, con gái của Vua James I. Trong vở kịch này, tác giả cũng nhắc tới con gái vua Alonso kết hôn cùng vua xứ Tunis dù cho sự thành hôn ở ngoài ý muốn của công chúa. Vào thời đại của Shakespeare, các đám cưới vương giả thường do nhiều mưu tính chính trị nhưng đối với Miranda và Ferdinand, cuộc hôn nhân này phản ảnh sự ngây thơ của hai nhân vật, họ thuộc vào một thế giới mới, can đảm, và tác giả Shakespeare đã không dùng phụ nữ vào các khế ước chính trị.

Các vấn đề xã hội thường được các nhà soạn kịch đưa lên sân khấu bởi vì đây là một tiểu vũ trụ, một thứ hình ảnh của vũ trụ rộng lớn hơn, và sân khấu là nơi mô tả sự liên lạc giữa các người dân và nhà vua, giữa con người và Thượng Đế. Vở bi hài kịch “Bão Tố” còn là một trong các đại tác phẩm mà Đại Văn Hào Shakespeare viết ra để từ biệt sân khấu.

B. Giấc Mộng Ðêm Hè 

1/ Các nhân vật trong vở kịch.

Loại kịch: Hài Kịch

Thời điểm của vở kịch: thời cổ xưa

Địa điểm: kinh thành Athens, Hy Lạp.

Lần đầu tiên trình diễn: 1595/96

Lần đầu tiên xuất bản: 1600.

Oberon: vua của các thiên thần

Titania: hoàng hậu cai quản các tiên nữ

Puck: tiểu yêu tinh quái, làm theo lệnh của vua Oberon

Peaseblossom, Moth, Cobweb, Mustardseed: các nàng tiên nhỏ, đệ tử của Titania.

Hermia: thiếu nữ yêu Lysander nhưng bị cha bắt đính hôn với Demetrius.

Helena: thiếu nữ yêu Demetrius nhưng không được yêu lại.

Lysander và Demetrius: hai thanh niên cùng yêu Hermia.

Egeus: cha của Hermia

Theseus: bá tước của kinh thành Athens.

Nick Bottom, Quince, Snug, Flute, Snout, Starveling: thuộc một nhóm công nhân

của kinh thành Athens, ưa thích đóng kịch.

2/ Câu chuyện.

Vào tháng 7 tại nước Hy Lạp, thời tiết bất thường. Trời mưa tầm tã, làm ngập úng cánh đồng, làm hư thối mùa màng. Trong thế giới thần tiên, hẳn phải có điều chẳng lành. Thực ra, đã có mối bất hòa giữa vua và hoàng hậu của các thiên thần về sự việc ai là người trông nom một đứa bé. Do sự cãi nhau này, mưa tiếp tục đổ xuống và ít có hy vọng mưa ngừng rơi vào ngày lễ cưới của Bá Tước Theseus.

Bá Tước Theseus sẽ làm lễ thành hôn vào buổi tối Ngày Giữa Hè và các công dân của kinh thành Athens không còn quan tâm tới điều gì khác hơn là thời tiết, bởi vì đây là trở ngại chính của ngày vui của họ. Trong số các người trẻ tuổi của kinh thành này, có nàng Hermia tóc đen, đang yêu thương chàng thi sĩ mơ mộng tên là Lysander. Chàng trai này cũng yêu nàng và cả hai người đã hứa hẹn sẽ kết hôn với nhau. Nhưng cha của nàng Hermia lại có ý kiến khác. Ông Egeus bảo con gái: “Chọn người chồng cho con là thuộc quyền của cha. Và cha đã chọn Demetrius, anh chàng này cũng quý phái một chút như chàng Lysander và hơn nữa, không có bộ óc mơ mộng trên tầng mây”. Hermia đã phản kháng lại: “Nhưng cha ơi, con không yêu Demetrius chút nào và hơn nữa, anh chàng này thay đổi ý kiến dễ đàng như thời tiết Mùa Hè”. Điều này quả thật đúng. Hermia đã nói lên sự thật bởi vì không lâu trước đây, Demetrius đã hứa hẹn yêu thương cô bạn thân của Hermia tên là Helena, rồi sau đó lại bỏ rơi Helena mà theo đuổi Hermia.

Ông Egeus, cha của Hermia, là con người cứng rắn, không dễ gì thay đổi ý kiến: “Hermia, con bắt buộc phải kết hôn với Demetrius hay là con sẽ bị trừng phạt”. Thật là buồn cho Hermia bởi vì theo luật lệ của kinh thành Athens, người cha có quyền chọn lựa người chồng cho con gái và nếu từ chối, cô gái này có thể bị kết án. Khi Hermia tuyên bố rằng nàng thà chết còn hơn kết hôn với người nàng không yêu, thì ông Egeus đã đưa con gái ra công lý, xin nhà cai trị địa phương xét xử. Nhưng chính vào lúc này, Bá Tước Theseus cũng sắp kết hôn nên rất thông cảm với mối tình của Hermia. Chỉ còn một giải pháp giành cho cô nàng này là vào nhà tu, sống xa cách, không bao giờ gặp lại chàng Lysander nữa!

Trước hoàn cảnh khó khăn này, nàng Hermia đã lẻn đi gặp người yêu, có lẽ lần này là lần cuối cùng: “Anh Lysander ơi, chúng ta phải làm gì? Em không thể kết hôn với Demetrius bởi vì em chỉ yêu Anh mà thôi!”. Lysander dịu dàng bảo người yêu: “Hãy lau nước mắt đi em! Tình yêu chân thật không bao giờ diễn ra một cách êm đềm cả! Nhưng anh đã có cách”.Hermia thúc giục: “Nói đi anh, em chờ nghe đây”. – “Anh có một bà cô cư ngụ bên ngoài kinh thành Athens này. Tối ngày mai, em hãy trốn khỏi nhà và gặp anh trong rừng. Chúng ta sẽ tới nhà bà cô của anh và tại nơi này, chúng ta có thể kết hôn mà không bị luật lệ trói buộc. Chúng ta sẽ… “. – “Đừng nói nữa anh, có người đi tới”.

Hermia quay đầu lại và nhận ra Helena, cô bạn có vóc người cao và gầy. Vào lúc này, Hermia không thể tươi cười với bạn nổi bởi vì đôi mắt của Helena khóc đỏ hoe, sắc mặt tái xanh! Hermia bảo bạn: “Trông bạn có vẻ đau ốm nhiều!”. Helena thở dài: “Em không đẹp bằng chị, nên không thể khiến cho Demetrius để mắt tới”. Hermia an ủi bạn: “Hãy yên tâm, bạn ạ, Demetrius sẽ không còn dịp nhìn thấy mặt chị nữa!”. rồi để làm cho người bạn này đỡ buồn rầu, Hermia đã thổ lộ dự định của mình là bỏ trốn, đi sống với Lysander.

Helena là người đã từng yêu Demetrius nhưng không đước đáp lại bởi vì anh chàng này lại chạy theo Hermia. Đây là cơ hội rất tốt, cần phải báo tin bí mật này cho Demetrius biết rằng không nên theo đuổi Hermia nữa. Helena đi tìm gặp Demetrius và kể lể với chàng rằng “Lysander và Hermia đã bỏ trốn rồi! Anh thấy không, em là người đã yêu thương Anh hơn cả!”.Nhưng Demetrius đã không chú ý tới cô nàng này và thề rằng sẽ báo thù Lysander. – “Hãy để tôi yên! Tôi không muốn nhìn thấy mặt cô!”. Helena vẫn than khóc: “Nhưng xa Anh, em không chịu nổi!”. Hai người trẻ tuổi thuộc lứa tuổi đang yêu này vừa than van, vừa đi vào trong rừng.

Cũng vào lúc lộn xộn này, một nhóm công nhân đi vào khu rừng như một đoàn lừa. Họ đang cần một nơi yên tĩnh để tập dượt một vở kịch, trình diễn nhân dịp Hôn Lễ của Bá Tước với câu chuyện tình lãnh mạn của Pyramus và Thisbe. Người điều khiển vở kịch là anh thợ mộc Peter Quince. Quince đã chọn Nick Bottom, thợ dệt, đóng vai Pyramus là người hùng trong vở kịch. Bottom thì thắc mắc: “Pyramus là một bạo chúa hay một người tình?”. Quince trả lời: “Một người tình đã tự sát vì yêu!”. Bottom hớn hở góp ý: “Rồi khán giả phải lau nước mắt! Tôi sẽ làm họ khóc như mưa! Tôi còn có thể đóng vai một bạo chúa, nổi giận như Hercules!”. Rồi anh chàng này biểu diễn cách la lối, gầm thét tới độ Quince phải năn nỉ ngừng lại, vì còn phải thảo luận về các vai khác.Vai nữ anh hùng Thisby được giao cho anh chàng sửa ống thổi Francis Flute. – “Đừng giao cho tôi vai đàn bà nhé, bởi vì tôi có râu!”. Bottom lại hăng hái đòi: “Tôi sẽ đóng vai đó, tôi sẽ che mặt và nói bằng giọng nói dịu ngọt”. Quince bèn quyết định: “Không, anh phải đóng vai Pyramus. Còn Snug, anh thủ vai con sư tử “.Bottom lại van nài: “Cho tôi vai này, tôi gầm rống lớn lắm”. Cuối cùng, Quince đã thành công trong việc chỉ định các vai tuồng và nhóm công nhân đồng ý gặp lại nhau để tập dượt vào tối hôm sau tại chính khu rừng mà Hermia và Lysander đã hẹn hò.

Trong khu rừng dưới ánh trăng, các thần tiên cũng ồn ào, bận việc.Tiểu yêu tinh quái Puck bỗng thấy một tiên nữ đi ngang qua, bèn chặn lại hỏi: “Đi đâu vậy?” – “Tôi bay lượn trên đồi, trên rừng để tìm kiếm một loại sương mai cho hoàng hậu Titania, bà ta sắp tới đây”. Puck biết ông chủ của nó, Oberon là vua các thần tiên, đang cãi nhau với hoàng hậu Titania về đặc quyền ai được giữ đứa bé da đỏ khi mẹ của cậu bé này qua đời. Vua Oberon muốn có đứa bé làm kẻ hầu còn hoàng hậu Titania từ chối vì mẹ của nó đã hầu cận bà ta lâu ngày. Hoàng hậu Titinia bảo vua Oberon: “Oberon, anh không nhận thấy rằng chúng ta cãi nhau khiến cho thời tiết thay đổi bất thường sao? Sương mù và nước ngập đang bao phủ đất trời, lúa má thối mục ngoài cánh đồng!”. – “Vậy thì hãy trả lại đứa bé cho ta”. Titania không đồng ý, gọi các nàng tiên nhỏ: “Bay đi, bỏ mặc họ ở lại đây!”. Khi không còn nàng tiên nhỏ nào gần đó nữa, vua Oberon mới quay lại bảo tiểu yêu Puck: “Tại khu rừng phía tây xa xa, có một bông hoa màu tím trên đó Thần Cupid đã làm rơi mũi tên. Giọt sương của bông hoa này khi nhỏ vào mắt ai, sẽ làm cho kẻ đó say mê người được trông thấy đầu tiên. Mi hãy đi kiếm cho ta vài giọt sương đó!”. Khi tiểu yêu Puck đã bay đi khỏi, vua Oberon tự nhủ “Ta sẽ nhỏ giọt sương này vào mắt Titania. Khi tỉnh dậy, nàng sẽ nhìn thấy bất cứ con gì, con sư tử, con bò hay con đười ươi, và sẽ yêu mê mẩn con vật này cho tới khi trao trả đứa bé, ta mới giải liều thuốc mê”.

Bỗng nhiên vua Oberon lại nghe thấy một cặp nam nữ tiến lại gần, vừa đi vừa cãi nhau. Nấp đằng sau bụi cây, nhà vua lắng nghe Demetrius la lên: “Đừng bám theo tôi nữa”. Nhưng Helena vẫn khóc lóc: “Không theo anh, em không chịu nổi! Em sẽ đeo theo anh như một con chó đi theo chủ vậy!”. – “Em không biết xấu hổ sao? Còn Hermia và Lysander ở đâu? Em nói rằng họ tới đây cơ mà?”. Demetrius tìm kiếm trong khu rừng vì vẫn còn đam mê Hermia.

Tới lúc này, vua Oberon mới nghĩ tới công dụng của loại sương hoa mà Puck đang đi lấy về. Khi tên tiểu yêu này trở lại, Oberon bảo nó: “Hãy giữ lấy vài giọt sương. Mi vô rừng, tìm kiếm một thiếu nữ đang than khóc và một chàng trai đang hắt hủi cô nàng. Mi nhận ra chàng trai này nhờ y phục quý phái của dân thành Athens. Hãy nhỏ một giọt sương vào mắt chàng này. Phần ta, ta đi kiếm Titania để thử làm cho nàng say mê”. Hoàng hậu Titania vào lúc này đang ngủ say trên thảm hoa sau khi đã xếp đặt vài tiên nữ chăm sóc các bụi hoa. Quỳ bên hoàng hậu, vua Oberon nhỏ vào mắt nàng giọt sương huyền bí.

Vào lúc này, tiểu yêu Puck cũng đang tìm kiếm anh chàng quý phái của kinh thành Athens, nó gặp ngay Lysander và Hermia đang lạc lối trong rừng. Do quá mệt nhọc, Lysander ngủ say trong khi Hermia cũng nằm xuống cách đó không xa. Khi gặp cặp tình nhân này, Puck tin rằng đây là người mà vua Oberon đã sai đi làm công tác, nó bèn giỏ một giọt sương vào mắt Lysander. Nếu khi tỉnh dậy, Hermia là thiếu nữ đầu tiên mà Lysander nhìn thấy, thì mọi việc sẽ êm đẹp biết bao! Nhưng vì Helena cũng bị lạc lối trong rừng và khi nhìn thấy Lysander nằm ngủ, cô này tưởng rằng chàng trai bị thương thay bị bệnh, bèn lay gọi: “Lysander, anh còn sống không? Hãy tỉnh dậy”. Lysander mở mắt ra, nhìn thấy Helena và do giọt sương huyền bí, bèn thốt lên: “Helena, anh chỉ yêu em!”. Quá đỗi ngạc nhiên, Helena cãi lại: “Ô, đừng nói vậy, anh yêu Hermia mà!”. Helena đã từng bị Demetrius khinh rẻ, tới lúc này, nàng cho rằng Lysander châm chọc nàng. Sợ quá, nàng bỏ chạy vào trong rừng. Lysander vẫn đuổi theo, bỏ mặc Hermia ngủ một mình bên bụi cây.

Cũng vào lúc này, Quince, Bottom và các bạn khác đang tập kịch gần chỗ hoàng hậu Titania nằm ngủ. Tiểu yêu Puck do đi gần tới nơi, bèn nghĩ ra một cách tinh nghịch. Vào lúc Bottom đi ra đằng sau bụi cây để thay y phục, thì Puck đã khiến cho anh chàng này mang đầu một con lừa. Khi xuất hiện trở lại nơi tập kịch, hình ảnh đầu lừa của Bottom đã làm cho các bạn hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn. Bottom không hề hay biết rằng mình đã đổi thay, anh ta ca hát om sòm. Lời ca ồn ào này đánh thức Titania. Ngay lập tức hoàng hậu đam mê anh hề này. – “Hãy hát lên đi, em yêu anh lắm. Em có thể sai khiến các nàng tiên ca hát khi anh ngủ!”. Rồi Titania sai bốn tiên nữ thân cận là Peaseblossom, Cobweb, Moth và Mustardseed, đi kiếm về nào trái cây dâu tươi, nào trái mận chín và mật ong.

Trong khi tiểu yêu Puck đi tới chỗ vua Oberon để báo cáo công việc đã làm, thì nàng Hermia tìm kiếm người yêu Lysander.Do không thấy anh chàng này, Hermia cho rằng Demetrius đã ám hại người yêu của mình. – “Anh thật là hèn, hãy trả lại Lysander cho tôi!”. Demetrius cũng nổi giận, đáp lại: “Tôi không biết”. – “Tôi phải kiếm cho ra Lysander” và Hermia chạy vào trong rừng. Tới lúc này, vua Oberon nói nhỏ với tiểu yêu Puck: “Mi đã làm mê hoặc lầm người rồi”. Vua Oberon trông thấy Demetrius, bèn làm cho anh chàng này mệt mỏi, ngáp dài: “Ta phải nghỉ một lát” và khi Demetrius đã ngủ sau, Oberon giỏ một giọt sương vào mắt chàng trai này, đồng thời tiểu yêu Puck cũng dẫn được Helena và Lysander tới khu rừng trống, nơi Demetrius đang nằm. Tiếng ồn ào, cãi cọ làm cho Demetrius tỉnh dậy và khi nhìn thấy Helena, Demetrius đã kêu lớn: “Nàng tiên của anh, hãy cho phép anh hôn lên bàn tay nàng”. Tới lúc này, Helena phải than lên: “Cả hai anh cùng chế nhạo người con gái đáng thương này!”. Trong khi cặp ba người này đang năn nỉ nhau thì Hermia cũng tới nơi, choàng tay vào cổ Lysander và nói: “Tại sao anh đã để em một mình trong khu rừng đen tối?”. Lysander gỡ tay của Hermia ra: “Không phải em đâu, anh đã có người đẹp hơn em nhiều!”. Hermia bèn xô đẩy Helena: “Chị đã làm mê hoặc cả hai người này, đừng lấy trộm Lysander của tôi”. Helena cãi lại: “Cả chị nữa! Chị cũng tham gia vào trò chơi độc ác này sao?” và trong lúc này, hai chàng Lysander và Demetrius sắp sửa “đánh nhau tới chết” để chiếm quyền kết hôn với nàng Helena.

Trông thấy cảnh ngộ oái oăm này, vua Oberon nói nhỏ với tiểu yêu Puck: “Đây là lỗi của mi!”.Tên tiểu yêu cãi lại: “Tôi chỉ làm theo lệnh của Ngài, tôi nhỏ sương hoa vào mắt chàng thanh niên mặc y phục của kinh thành Athens”. – “Họ sắp đánh nhau rồi đó. Hãy ngưng thôi. Đây là chất giải độc, mi làm cho họ ngủ rồi sau đó, trận cãi nhau chỉ còn là giấc mộng”.

Trong khi Puck đi giải độc thì vua Oberon bay tới chỗ hoàng hậu Titania. Do bị giọt sương huyền bí làm mê hoặc, hoàng hậu này đang mải mê vuốt ve đôi tai lừa của chàng Bottom. Nàng không còn quan tâm tới đứa bé da đỏ nữa và vua Oberon đã mang đứa nhỏ đi khỏi. Nhìn thấy Bottom được quấn vòng hoa quanh đầu, được mơn trớn và cho ăn nhiều món ăn quý, vua Oberon không khỏi ghen tức, muốn chấm dứt trò chơi tinh nghịch, nên gọi tiểu yêu Puck lại, bảo nó bỏ cái đầu lừa khỏi nơi đầu anh thợ dệt Bottom và khiến cho mọi người tỉnh lại, coi như vừa trải qua một giấc mơ.

Khi mặt trời chiếu sáng trở lại, Bá Tước Theseus dẫn đoàn người họ nhà gái tới khu rừng để tập dượt lễ cưới. Nhóm người này hết sức ngạc nhiên khi gặp mặt hai cặp người trẻ mới tỉnh dậy sau một đêm ngủ kỳ lạ. Cha của Hermia là người tháp tùng bá tước, đã tỏ ra hết sức tức giận khi biết rằng Hermia và Lysander đã bỏ nhà, trốn đi. Nhưng tới khi Demetrius tuyên bố rằng anh chàng này bây giờ chỉ yêu Helena, khiến cho ông già Egeus dịu bớt. Cả hai cặp người trẻ này cùng trở về kinh thành Athens, cùng bàn lại những gì đã xẩy ra mà không thể biết nổi đâu là giấc mơ, đâu là sự thật.

Đêm hôm đó, dạ tiệc hôn lễ được tổ chức không những giành cho Bá Tước và phu nhân Hippolyta, mà còn cho hai cặp người trẻ. Trước các câu chuyện kỳ lạ kể lại, Bá Tước phải thốt lên: “Kẻ đang yêu và kẻ điên cùng có các bộ óc sôi động như nhau. Có người tin dị đoan rằng vào giữa Đêm Hè, nếu các người nam hay nữ đi vào rừng, họ sẽ gặp các mối tình yêu chân chính và cầu xin các tiên nữ ban phước lành cho tất cả chúng ta”. Rồi sau đó bắt đầu vở kịch kể về câu chuyện tình của Pyramus và Thisby. Quince giới thiệu các nhân vật. Vở kịch khiến cho mọi người cười lớn, hân hoan.

Sau khi các chàng rể, các nàng dâu, các khách tham dự, các diễn viên, các người hầu và tất cả dân chúng trong kinh thành Athens đã chìm vào trong giấc ngủ, thì vua Oberon và hoàng hậu Titania cùng các thần tiên nhỏ bay lượn trong kinh thành, rải rác nhiều phước lành cho mọi người đang say sưa trong tình yêu chân thật.

3/ Vài nhận xét về vở kịch Giấc Mộng Đêm Hè.

Chủ đề của vở kịch “Giấc Mộng Đêm Hè” (Midsummer Night’s Dream) là “tình yêu không theo luật lệ nào ngoài thứ luật của chính nó”. Tình yêu (love) thường bị coi là mù quáng, vô lý và không thể biết trước được. Có người cho rằng tình yêu đôi khi như một bản nhạc, diễn tả một chủ đề bằng các nốt nhạc cao và thấp hơn, hay theo nhiều nhịp độ khác nhau. Tình yêu không xẩy ra một cách bình thường, dễ bị ngăn trở bởi các khác biệt vì giai cấp xã hội, vì tuổi tác, vì chiến tranh hay vài lý do khác.

Tình yêu và luật lệ có thể tương khắc nhau. Hermia yêu Lysander nên không nghe lời cha, không tuân theo luật lệ của kinh thành Athens, Helena càng yêu Demetrius lại càng bị anh chàng này ghét bỏ, xa lánh. Tình yêu có thể là mù quáng, là hình ảnh của thiên thần nhỏ Cupid khiến cho Titania yêu Bottom, anh chàng có cái đầu lừa. Giọt sương nhỏ vào mắt các kẻ đang yêu khiến cho họ không nhìn ra sự thật, họ đã hành động không theo lý trí và như vậy, “trái tim” và “bộ óc” không thể hiểu nổi nhau khiến cho cuộc đời thường diễn ra một cách buồn cười, không biết làm sao đoán trước.

Vở kịch “Giấc Mộng Đêm Hè” đã khai thác đặc tính hay thay đổi của tình yêu, đã đề cập tới tâm lý của “tiềm thức” (subconscience), khiến cho khán giả phân biệt “ảo tưởng” (illusion) với “thực tế” (reality), trình bày tính khả hữu của sự việc, bàn tới một thứ sức mạnh bí ẩn của con người.

C . Bi kịch Hamlet

1/ Hoàng Tử Hamlet của Xứ Đan Mạch.

Vào thời xa xưa, trong lâu đài Elsinore cổ kính có nhiều bóng ma. Bóng ma hiện ra tại các cửa sổ. Bóng ma chờ đợi tại các cầu thang. Bóng ma cũng chập chờn trong các góc phòng, nơi các màn cửa, sau ngọn lửa le lói trong lò sưởi. Sống trong lâu đài này là Vua nước Đan Mạch Claudius. Mỗi đêm, nhà vua tổ chức tiệc tùng, với pháo bông, với âm nhạc huyên náo nhưng quanh quẩn đâu đó vẫn là các bóng ma và cảnh yên lặng ghê rợn vẫn rải rác đó đây trong tòa lâu đài. Trên sân thượng của tòa lâu đài lại có một con ma thường đi đi lại lại, làm cho nhiều người bị khiếp sợ. Các người lính đã kể cho Hoàng Tử Hamlet về con ma đó. Con ma này có bộ mặt buồn thảm hơn là giận dữ, mặc bộ áo giáp màu xám trông giống như nhà vua đã qua đời, thường hiện ra khi đồng hồ gõ 12 tiếng, ra hiệu bằng cử chỉ mà không nói nên lời.

Trong một đêm tối, Hamlet đã cùng người bạn thân tên là Horatio và người lính gác Marcellus leo lên trên sân thượng của tòa lâu đài, men theo các bức tường, đuổi theo con ma, để tìm cách nói chuyện với con ma. Con ma đã vẫy Hamlet tới một nơi hoang vắng để nói chuyện riêng tư khiến cho Horatio và Marcellus khuyên Hoàng Tử không nên mạo hiểm bởi vì có thể bị ám hại. Nhưng Hoàng Tử Hamlet vẫn coi thường nguy hiểm, không sợ hãi. Khi đã ở một nơi vắng vẻ, con ma cho biết chính nó là nhà vua cũ, và đã nói với Hoàng Tử như sau :”Ta là hồn của cha nhà ngươi, đang chịu số phận phải đi lang thang trong các đêm trường lạnh giá bởi vì không được giải tội. Cõi chết đã tới với ta quá bất ngờ”. Hamlet hỏi hồn ma :”Mi chết vì bị rắn độc cắn phải không ?” Hồn ma bèn trả lời :”Vâng, đúng vậy, bị cắn bởi chính con rắn độc đang đội vương niệm của ta và ngủ với vợ của ta. Em ta đã giết ta do đổ thuốc độc vào lỗ tai của ta khi ta đang ngủ trong vườn trái cây, để cướp đi ngai vàng và hoàng hậu của ta”.

Hoàng Tử Hamlet đã thốt lên :”Ta biết điều đó, tâm hồn ta biết điều đó”. Từ lâu, Hamlet không hiểu tại sao chàng ghét Vua Claudius và cho tới lúc này, chàng bị sửng sốt vì mẹ của chàng đã sớm kết hôn với người em trai của người chồng cũ, gần hai tháng sau khi vị vua già qua đời. Dĩ nhiên, đây là một vụ sát nhân. Vụ ám muội này đã cắt nghĩa về con người đã kết hôn với mẹ của chàng và đây là một cuộc hôn nhân không thích hợp, không hợp pháp. Con ma yêu cầu Hoàng Tử Hamlet : “Hãy báo thù cho ta về vụ sát nhân độc ác này. Hãy nhớ đến ta”. Làm sao Hamlet quên được điều này ? Vị Hoàng Tử thề rằng sẽ dẹp qua mọi chuyện vui chơi, mọi cuộc thể thao, cho tới khi nào giết được Claudius. Nhưng Hamlet là một thanh niên đang ở trong tuổi yêu đương, chương trình kết hôn với nàng Orphelia sẽ bị hoãn lại. Hạnh phúc phải nhường chỗ cho bổn phận, bổn phận báo thù cho cha !

Để che dấu ý định báo thù này, Hoàng Tử Hamlet phải giả điên để đánh lừa Vua Claudius và Hoàng Hậu, không cho họ biết chàng đang suy nghĩ về cái chết của người cha và tìm cách báo thù, và khiến cho họ tưởng rằng chàng điên vì tình, làm cho cho Vua Claudius tin tưởng rằng mình luôn được an toàn, rồi vào lúc thuận tiện, Hamlet sẽ giết chết nhà vua này. Nhưng việc giả vờ bị điên khùng không phải là dễ. Hoàng Tử Hamlet đã kể dự định của mình với người bạn thân nhất là Horatio và càng ít người biết về ý định báo thù, càng tốt. Hoàng Tử Hamlet có thể tâm sự với nàng Orphelia nhưng không hiểu tại sao vào dạo này, nàng Orphelia lạnh nhạt với chàng, biết đâu rằng do cha của nàng, Bá Tước Polonius, một người cha áp đảo và không thông cảm, đã ngăn cản câu chuyện yêu thương.

Rồi vào ngày hôm sau, nàng Orphelia đã bị bối rối khi nhìn thấy người yêu cũ mặc bộ y phục màu đen, đi nghiêng ngả gần căn phòng của nàng và nói năng lảm nhảm với nàng như một kẻ điên. Orphelia hoảng sợ. Anh của nàng là công tử Laertes vừa mới xuống tầu qua nước Pháp du học, cho nên nàng Orphelia sẽ đi cầu cứu ai đây, ngoại trừ người cha ? Bá Tước Polonius là một con người tự phụ, trước kia là một nhà chính trị khôn ngoan, một cố vấn cho nhà vua nhưng ngày nay, tuy ông ta không còn là một nhà triết học sâu sắc nhưng vẫn còn giữ một chức vụ cao trong triều đình. Đôi khi ông Bá Tước này cũng quyết định sai nhầm, ông nói nhiều chuyện tầm thường hơn là suy nghĩ sâu xa. Dù thế, Orphelia vẫn kể cho cha nghe mọi sự việc đã xẩy ra. Bá Tước Polonius đã hỏi con gái :”Gần đây, con có nói câu nào thiếu vẻ thương yêu với Hoàng Tử không ?” và Orphelia đã trả lời :”Con đã làm theo lời cha dặn. Con bảo chàng rằng con không thể gặp chàng được nữa”. – “Phải rồi, đó là lý do tại sao khiến chàng hóa điên”. Ông già Polonius nói ra một cách quả quyết : “Cha cho rằng chàng chơi đùa với tình yêu của con, vì vậy cha đã không khuyến khích con tiến tới, nhưng rõ ràng là chàng đã yêu thương con rồi đó”.

Thế rồi Bá Tước Polonius đã thuật lại cho Vua Claudius và Hoàng Hậu Gertrude những điều đã xẩy ra cho Hoàng Tử Hamlet khiến cho chàng thanh niên tuấn tú này có các cách hành sử hoang tưởng, đôi mắt ngơ ngác, miệng nói lãm nhảm Bá Tước Polonius còn xác nhận rằng :”Quý ngài sẽ thấy gốc rễ của căn bệnh là tình yêu ! Quý ngài hãy nấp sau tấm màn cửa treo tại hành lang và tôi sẽ xếp đặt cho đôi trẻ gặp nhau bất ngờ. Quý ngài sẽ thấy tại vì tình yêu ! Tôi không hề can thiệp vào đó”.

Hoàng Tử Hamlet là một sinh viên và một người biết suy nghĩ. Chàng có thể rời khỏi lâu đài Elsinore để đi du học, giống như cậu công tử Laestes, nhưng người mẹ quá thương con đã không để chàng ra đi. Con ma đã năn nỉ chàng ở lại và đầu óc của chàng chẳng nghĩ gì khác hơn là việc báo thù cho cha. Chàng tìm hiểu các giả thuyết, tìm kiếm xem cách nào và khi nào nên giết Claudius. Con ma có thực là linh hồn của cha chàng không, hay là một con ác quỷ nào đó xui giục chàng phạm tội sát nhân ? Câu chuyện đầu độc có thực không ? Làm sao tìm ra các chứng cớ ? Cần phải cứu xét mọi lý lẽ. Càng suy nghĩ, Hoàng Tử Hamlet càng chìm sâu vào thất vọng và trầm tư. Cha của chàng đã bị giết. Mẹ của chàng không đúng đắn, nàng Orphelia không yêu thương chàng nữa. Trên đời này, còn gì đáng để sống đây ? Đời người có ý nghĩa gì ? Có đời sau không ? Đời sau có tốt đẹp hơn đời này không ? Phải chăng là nỗi khủng khiếp khi con người nằm chờ đợi cõi chết ?
Trong khi Hamlet đang suy nghĩ, muốn tự sát thì Bá Tước Polonius, Vua Claudius và Hoàng Hậu cùng nấp sau tấm màn treo, rình mò xem có phải Hoàng Tử hóa điên vì yêu nàng Orphelia không ? Điều này càng dễ nhận ra khi Bá Tước bảo người con gái đi dọc theo hành lang. Hoàng Tử Hamlet bị sửng sốt vì bất ngờ gặp Orphelia. Trước vẻ đẹp thanh tú của nàng, chàng rất dễ bị lộ cách giả điên. Nhưng, trong lần gặp gỡ này, người đẹp Orphelia chỉ muốn trả lại chàng các món quà tặng và các lá thư tình, làm tăng thêm nỗi cay đắng nơi trái tim của chàng. Chàng Hamlet hỏi “Cha nàng bây giờ ở đâu ? Có ở nhà không ? Hãy bảo ông ta phải ở trong nhà và khóa cửa cẩn thận vào ban đêm. Còn em nữa ? Tại sao em không trở nên một nữ tu ? Tại sao em còn muốn sinh con, tạo thêm các kẻ tội phạm trên mặt đất đã quá đông người tội lỗi này ?” Hoàng Tử Hamlet đã to tiếng với người đẹp Orphelia, đã xô đẩy nàng, đã nổi điên vì bị thất vọng.

Sau khi Hoàng Tử Hamlet đi khỏi, các kẻ nghe lén bèn xuất hiện từ nơi ẩn nấp và mỗi người đều không tin chắc về điều mình đã suy nghĩ. Hoàng Hậu Gertrude lo lắng, ưu phiền. Vua Claudius cảm thấy bị đe dọa và quyết định đưa Hoàng Tử ra khỏi xứ càng sớm càng hay. Bá Tước Polonius nói lảm nhảm về tình yêu tuyệt vọng. Còn nàng Orphelia bị bỏ rơi, cô đơn, thương hại cho số phận hẩm hiu của chàng Hamlet, tiếc cho con người cao quý như vậy mà gặp phải hoàn cảnh điên dại xấu xa !

Về phần Hamlet, chàng suy nghĩ, lý luận, rồi đi tới chỗ bế tắc. Chàng không còn biết phải làm gì ? Nhưng một cơ hội đã đến với chàng, khiến cho chàng phải hành động. Một đoàn hát lưu động thường tới lâu đài Elsinore mỗi năm, mang lại cảnh sinh hoạt nhộn nhịp vì các hoạt náo của các anh hề, vì y phục sặc sỡ của các diễn viên Tài năng đặc biệt về bi kịch đã khiến cho Hoàng Tử Hamlet có một ý tưởng. Chàng bèn gọi nhà đạo diễn của đoàn kịch và dặn ông ta phải trình diễn vở kịch đặc biệt trước gia đình hoàng gia : vụ ám sát Gonzago. Có một thay đổi nhỏ lúc diễn xuất, đó là câu chuyện ông Bá Tước Gonzago bị giết trong vườn trái cây bởi tên Lucianus độc ác, đã thư thông với người vợ của Bá Tước tên là Baptista. Rồi Hoàng Tử ngồi gần đó sẽ quan sát vẻ mặt và các phản ứng của Vua Claudius để kết luận rằng nhà vua thực sự là kẻ sát nhân hay không. Chiều hôm đó, vở kịch được trình diễn. Kẻ sát nhân vô lương tâm đã đổ một chai thuốc độc nhỏ vào lỗ tai của Bá Tước Gonzago đang ngủ. Khi nhìn rõ cảnh phạm tội này, Vua Claudius đã bất ngờ đứng dậy, hoảng hốt chạy khỏi chỗ ngồi và la lên :”Bật đèn lên, cho tôi thêm ánh sáng”. Hai bàn tay của nhà vua quơ mạnh trên không trung như thể có một màn đen bao phủ, trùm kín nhà vua. Hoàng Tử Hamlet có tang chứng : Claudius đã phạm tội.

Bây giờ, Vua Claudius hiểu rằng Hamlet đã biết rõ vụ sát nhân. Phải loại trừ Hoàng Tử. Nhà vua bèn ra lệnh cho Hoàng Tử phải lên tầu biển qua nước Anh ngay lập tức. Trong khi đó Hoàng Hậu Gertrude gọi Hamlet vào phòng của bà để Hoàng Tử cắt nghĩa hành vi thái quá của chàng. Tức giận tới độ loạn trí, Hamlet la lớn trong phòng của mẹ. Hoàng Hậu Gertrude nói:”Hamlet, con đã làm cho cha của con tức giận rất nhiều”. Hoàng Tử bèn cãi lại :”Mẹ, chính mẹ mới là người làm cho cha đẻ của con tức giận”. – “Hamlet, hãy nhớ rằng con đang nói chuyện với ai !”. – “Làm sao con có thể quên được ? Mẹ là Hoàng Hậu phải không ? Mẹ là vợ của người em chồng và đáng tiếc thay lại là mẹ của con !”.

Trong tâm trí của Hamlet, việc Hoàng hậu Gertrude kết hôn với Claudius được coi là một hành vi phạm tội giống như người chồng sát nhân. Hoàng Tử Hamlet đã quá cảm xúc tới độ Hoàng Hậu Gertrude lo sợ cho mạng sống của chính mình do hành động điên rồ của Hoàng Tử, nên đã la lên “Cứu tôi với !” và sau bức màn cũng có ai đó kêu lên lời cầu cứu. Không do dự, Hamlet rút gươm ra và đâm qua tấm màn treo vì chàng cho rằng người đứng đó là Vua Claudius. Nhưng không phải Claudius ! Chính là Bá Tước Polonius, ông già hay xen vô các sự việc của người khác, ông cũng là người quen thói tìm hiểu các tư tưởng và hành động của các kẻ khác bằng các cách gián tiếp hay thiếu chính đáng.
Thay vì hối hận do lỗi lầm, Hoàng Tử Hamlet vẫn tiếp tục la mắng mẹ vì chàng bỗng ngước mắt lên, nhìn thấy con ma của cha chàng. Nhưng Hoàng Hậu lại không nhìn thấy bóng ma, con ma mặc áo giáp màu xám. Bà ta chỉ thấy khoảng trống không nên cho rằng Hamlet đã quá điên khùng ! Con ma than vãn với Hoàng Tử :”Hamlet, anh đang làm gì đó ? Ta có đòi hỏi anh báo thù mẹ anh không ? Hãy buông tha bà ta ! Hãy nhớ đến kẻ độc ác. Hãy nhớ tới lời anh đã thề nguyền báo thù cho ta “. Hamlet cố gắng làm cho mẹ nhìn thấy hồn ma nhưng vô hiệu quả. Trước sự việc này, Hoàng Hậu Gertrude lại càng tin rằng Hoàng Tử bị loạn tâm trí. Tới lúc này, Hamlet ân hận chưa trả thù cho cha và bây giờ, hy vọng giết Claudius đang bị lu mờ. Lưỡi gươm của chàng đã giết nhầm một ông già vô tội, người cha của nàng Orphelia. Hoàng Tử Hamlet bật khóc vì hành động đã làm. Chàng không thể nào tránh khỏi bị các quân lính của lâu đài bắt giữ rồi bị đưa xuống tầu, đầy qua nước Anh. Hy vọng trả thù của Hamlet đã tiêu tan !

Vua Claudius có thể giết ngay Hamlet nhưng vì e sợ dân chúng còn mến trọng Hoàng Tử và Hoàng Hậu còn thương con, vì vậy nhà vua giao Hoàng Tử Hamlet cho hai người tin cẩn tên là Rosencrantz và Guildenstern, kèm theo một bức thư gửi Vua nước Anh. Vào thời kỳ này, nước Anh phải thần phục nước Đan Mạch. Bức thư này viết như sau :”Người này là Hamlet, là một kẻ thù của nước Đan Mạch. Hãy giết hắn đi !”. Hoàng Tử Hamlet nghi ngờ âm mưu trong bức thư nên trong đêm tối, đã lấy trộm bức thư và thay tên của mình bằng tên của hai cận thần Rosencrantz và Guildenstern đi hộ tống rồi gắn bức thư lại, để trả về chỗ cũ.

Âm mưu giết Hamlet của Vua Claudius đã bị cản trở. Các quân cướp biển đã tấn công con tầu chở Hoàng Tử qua nước Anh. Vào đầu trận chiến, Hamlet đã dũng cảm, tuốt gươm leo qua tầu của kẻ cướp trong khi đó con tầu Đan Mạch rút đi một cách hèn nhát, bỏ mặc Hoàng Tử với số mệnh nghiệt ngã. Hamlet bị bắt làm tù nhân, chờ món tiền chuộc từ xứ Đan Mạch. Hoàng Tử bèn gửi tin về cho người bạn Horatio, cho mẹ, cho nhà vua và chàng được thả ra trên bờ biển gần một hải cảng của xứ Đan Mạch.

Tại xứ Đan Mạch, cái chết của ông già Polonius đã gây ra các hậu quả tai hại. Người con gái của ông ta là nàng Orphelia trước kia đã buồn phiền vì chứng điên dại của Hoàng Tử Hamlet, ngày nay càng đau khổ vì cha chết, vì hoàn cảnh bi thương của chính mình ! Nàng hát lên những lời ca u sầu của đám tang, nói năng lảm nhảm, cười khóc bất thường. Người con trai của Bá Tước Polonius tên là Laertes được tin cha bị giết mà không biết ai là thủ phạm, nên đã trở về xứ Đan Mạch, lòng tràn đầy căm giận. Vua Claudius đã cắt nghĩa cho Laertes “Không phải ai khác mà chính là Hamlet đã giết cha của anh. Con người điên đó, Hamlet ! Hãy bình tĩnh. Hãy kiên nhẫn. Hãy làm theo lời của ta và cha của anh chết đi mà vẫn được báo thù !”. Laertes đáng thương cũng được biết về cơn điên loạn của người em gái. Orphelia đã từng đi lẩn thẩn, đi quanh lâu đài, miệng ca hát lảm nhảm, trên tay cầm nhiều đóa hoa và cô nàng đã tới gần bờ sông mà không biết gì về nguy hiểm để đến nỗi bị chết đuối như một đứa trẻ thơ dại ! Nỗi căm thù làm cho Laertes trở nên hung bạo. Hamlet phải bị trả thù !

Một hôm, Hamlet đi gần nghĩa trang và bất ngờ nhìn thấy một đám tang đi tới. Hoàng Tử nhận ra các khuôn mặt quen thuộc và trong đám đông có cả mẹ của chàng, dĩ nhiên với bộ mặt buồn thảm, có cả nhà vua và Laertes ! Ai đã qua đời đây ? Hamlet không hề biết cho tới khi tấm thân người chết được hạ xuống huyệt và Laertes nhẩy xuống, ôm người em gái lần cuối. Khi biết rõ sự việc, Hoàng Tử Hamlet bèn kêu lên :”Lẽ nào là Orphelia !” và hai chàng thanh niên đã vật lộn với nhau trong huyệt mộ đầy bùn, giành nhau cách thương cảm cô nàng Orphelia xấu số. Khi cả hai chàng trai này đã được chia cách, Hoàng Hậu đã trách cứ Hamlet, và nhà vua xác nhận với Laertes rằng “Hắn điên rồi !”. Sau đó trong chỗ riêng tư, Vua Claudius khuyến khích Laertes phải báo thù cho hai cái chết của người cha và người em gái vô tội, không phải báo thù theo cách nông nổi mà theo tính toán, theo suy nghĩ cẩn thận và lần này, Hamlet sẽ không còn may mắn thoát hiểm nữa.
Vài ngày sau, người thông tin của nhà vua đã công bố cho mọi người biết rằng sẽ có một cuộc đấu gươm giữa công tử Laertes và Hoàng Tử Hamlet để dàn xếp điều tranh chấp về các đau buồn đã xẩy ra. Mặc dù Hamlet đồng ý về sự thách đố này, Hoàng Tử vẫn cảm thấy trước rằng có một điều khủng khiếp gì đó sẽ xẩy ra. Người bạn Horatio khuyên Hoàng Tử không chấp nhận cuộc thách đố nhưng Hamlet gạt đề nghị này qua một bên. Trước cuộc đấu gươm, Vua Claudius nói nhỏ với Laertes :”Đây là cây gươm không có phần che tay. Hãy chọn cây gươm này bởi vì mũi nhọn của nó đã được nhúng vào thuốc độc và chỉ một vết trầy nhỏ cũng đủ làm hắn chết”. Để chắc chắn thêm, Vua Claudius còn cho bỏ thuốc độc vào ly rượu giải khát dành cho Hamlet.

Khi tới dự cuộc đấu gươm và trước một số người chứng kiến, Hoàng Tử Hamlet rất bình tĩnh và lịch sự, chàng xin lỗi Laertes một cách thành thật về những nỗi buồn do mình gây ra và đã cư xử một cách cao thượng. Dù bị Vua Claudius thúc đẩy về lòng căm thù, Laertes cũng ngần ngại giết chết một người đàng hoàng như vậy. Bởi vì Hamlet là một tay kiếm xuất sắc, chàng thắng điểm trong hiệp đầu và không muốn ngừng lại để uống ly giải khát mà Vua Claudius khoản đãi. Hơn nữa, đầu mũi gươm của chàng tuy có bị cùn nhưng đã chọc thủng áo ngoài của Laertes và có vẻ Hamlet sắp thắng cuộc, giật được phần thưởng của nhà vua. Hoàng Hậu Gertrude rất vui mừng và hãnh diện về người con trai, bà đi xuống sàn đấu, lau mồ hôi trán cho Hoàng Tử rồi nâng ly rượu lên và nói “Chúc mừng sự thành công của con trai tài giỏi”. Trước cách hành sử này, Vua Claudius đã thốt lên :”Gertrude, đừng làm thế !”, nhưng đã quá muộn ! Thứ rượu có thuốc độc mà Claudius chỉ dành cho Hamlet đã trôi vào trong miệng của Hoàng Hậu Gertrude.

Trận đấu gươm lại diễn ra quyết liệt. Laertes đã đâm trúng Hamlet còn Hoàng Tử, sau lần trao đổi gươm theo như quy luật, cũng đâm Laertes bị thương. Tới lúc này, chất độc trong ly rượu ngấm vào tim của Hoàng Hậu, bà ta ngã gục, đầu đập xuống sàn. Vua Claudius cố gắng bảo mọi người :”Đó là do cảnh đổ máu mà Hoàng Hậu bị ngất xỉu”. Nhưng Hoàng Hậu Gertrude vẫn còn sức lực, cố gắng thốt lên :”Đừng, ly rượu ! Hamlet thương yêu, ta bị đầu độc!” và Hoàng Tử Hamlet bèn la lên “Kẻ sát nhân”. Cũng vào lúc này, Laertes ngã xuống và nói “Hamlet, anh cũng bị giết. Không có thứ thuốc nào trên thế gian này cứu nổi anh đâu ! Mũi gươm có thuốc độc. Nó giết anh và giết cả tôi. Hãy tha thứ cho tôi, anh bạn ạ, cũng như tôi tha thứ cho anh. Đó là do nhà vua. Đáng trách là nhà vua !”. Trong cơn giận dữ, Hamlet đã dùng cây gươm có tẩm thuốc độc, đâm thẳng vào ngực Claudius và uống nốt ly rượu rồi ngả người vào vòng tay của người bạn Horatio. Trong hơi thở cuối cùng, Hoàng Tử Hamlet đã yêu cầu Horatio kể lại cho thế gian biết về câu chuyện này.

Hoàng Tử Hamlet đã trả được mối thù cho cha và thêm vào đó, nhiều tội ác đã xẩy ra. Fortinbras, nhân vật trước kia được Hamlet chỉ định là người thừa kế, đã nhận ngai vàng và buồn thương cho tấm thảm kịch dành cho vị Hoàng Tử trẻ tuổi của xứ Đan Mạch.

2/ Vài nhận xét về Bi Kịch Hamlet.

Trong bi kịch này, Hoàng Tử Hamlet có lẽ là nhân vật phức tạp nhất được đưa lên sân khấu và nhiều học giả đã tranh luận về các hành động cùng tư tưởng của Hamlet.
Vào phần đầu của vở kịch, Hoàng Tử chỉ là một con người cao quý, bất lực trước cách báo thù cho cha và là nạn nhân của các hoàn cảnh. Cách suy tư của Hamlet được diễn tả qua các độc thoại của Hoàng Tử, qua các hành sử mang vẻ tàn bạo khi dằn vặt nàng Orphelia, khi đối xử với thân xác của Bá Tước Polonius, khi từ chối không muốn giết Claudius lúc ông vua này đang cầu nguyện và khi nghĩ ra cách giết hai cận thần Rosencrantz và Guildenstern. Phải chăng việc thất bại trong cách báo thù đã đưa Hoàng Tử tới trạng thái u buồn, trở thành nạn nhân của triết lý “đa sầu khôi hài” (the melancholy humor), và theo Dr. Ernest Jones, một đệ tử của Sigmund Freud, thì Hoàng Tử Hamlet đã mắc phải “mặc cảm Oedipus” (the Oedipus complex), một người muốn thay thế cha trong tình yêu của mẹ khi người cha bất ngờ qua đời.

Hamlet là một con người đặc biệt, không ổn định, chịu nhiều thúc động và ở trong nhiều trạng thái giao động tinh thần. Hoàng Tử là một người thông minh, nhậy cảm, ở địa vị cao nhưng gặp một hoàn cảnh tàn bạo nên đã có các thái độ quá đáng, do dự, tìm kiếm các chứng cớ để báo thù. Việc báo thù không được đạo Thiên Chúa chấp nhận trong khi Hamlet là một thứ anh hùng của thời đại Elizabeth I, là một loại “anh hùng bi thảm” (a tragic hero), đã bị con ma chỉ đường, bị lương tâm dằn vặt và bị lý trí giới hạn một số hành động theo bản năng.

Một nhân vật khác trong bi kịch là Hoàng Hậu Gertrude. Không có đủ yếu tố để kết luận Hoàng Hậu này đã đau buồn ra sao đối với cái chết của Vua Hamlet già, đã yêu thương Vua mới Claudius tới mức độ nào. Người ta không rõ cảm xúc của Hoàng Hậu đối với sự đạo đức khi kết hôn với người em chồng và vào thời đại đó, hành động như vậy bị coi là phi pháp và trái với luân lý. Hoàng Hậu Gertrude yêu thương Hamlet, cũng quan tâm đến Orphelia, đã cảm thấy có lỗi một cách mơ hồ rồi trong hoàn cảnh khó xử ở mức độ cao điểm, đã cầm uống ly rượu. Hoàng Hậu có biết rằng ly rượu này có thuốc độc hay không ?

Claudius là Vua của xứ Đan Mạch, là chú của Hamlet và sau này là cha ghẻ của Hoàng Tử. Đây cũng là một nhân vật phức tạp với khả năng uống rượu và tài năng chính trị đối phó với các nước Na Uy và Ba Lan, tài năng điều khiển dân chúng và hai cận thần. Khán giả có thể không ưa lối cười đạo đức giả thường xuyên của Claudius nhưng lại có cảm tình với ông vua này trong cảnh cầu nguyện và chính vào lúc này mà Hamlet không nỡ giết nhà vua bạo ngược.

Một hình ảnh khác là bóng ma của Vua Hamlet già. Trong các vở kịch của Shakespeare, thường có các bóng ma bởi vì vào thời đại Elizabeth I tại nước Anh, người dân vẫn còn dị đoan, tin vào các điềm triệu và các hồn ma. Có học giả cho rằng vai hồn ma trong các vở kịch được chính Đại Văn Hào Shakespeare đóng.

Polonius là một ông già hiểu biết, là người cha của Laertes và Orphelia, là một nhân vật trong triều đình nhưng vở kịch không nói rõ về chức vụ của ông Polonius và chức vụ này do Vua Hamlet già ban cho hay từ Vua Claudius. Hoàng Hậu Gertrude đã quan tâm tới việc hôn nhân giữa Hamlet và nàng Orphelia, đã coi ông Polonius là “một ông già tốt bụng” nhưng bản tính ưa rình mò của ông Polonius đã làm cho khán giả buồn cười và trong các hành động của ông Polonius có pha trộn cả điều xấu lẫn điều tốt.

Laertes là một thanh niên trái ngược với Hamlet. Chàng được huấn luyện để trở nên một cận thần. Laertes là người thành thật, tự hào, ham danh dự, hành động vội vã, đã cãi nhau với vị tu sĩ trong đám tang của người em gái, đã làm trái lương tâm do dùng cây gươm có tẩm thuốc độc lúc trả thù cho cha. Dù sao, Laertes cũng là một nạn nhân ngây thơ, giống như người em gái Orphelia.

Nàng Orphelia mang tên từ tiếng Hy Lạp “Apheleia” có nghĩa là “ngây thơ”. Đây là lời mô tả cách nhìn đời của cô nàng. Orphelia đã bối rối khi nhìn thấy Hamlet thay đổi thái độ và trong cảnh tranh chấp giữa tình yêu Hoàng Tử và bổn phận vâng lời cha, nàng Orphelia đã làm theo lời cha dặn trong khi đó Hamlet không hoàn toàn tuân theo lời của cha tức là lời dặn của hồn ma.

Trong vở kịch, ngoài các nhân vật chính kể trên còn có Horatio, Rosencrantz, Guildenstern, Fortinbras, các người lính, các anh hềà Horatio là bạn của Hoàng Tử Hamlet. Đây không phải là một nhà quý tộc nhưng là một người quân tử (gentleman), có các đức tính ôn hòa mà chính Hoàng Tử Hamlet không có. Horatio đã sống một cuộc đời không chứa các niềm vui và nỗi buồn thái quá.

Bi kịch Hamlet chứa đựng bên trong nhiều chủ đề, chẳng hạn như công lý và sự báo thù, số mệnh con người và mục đích của đời người, sự lành mạnh và điên dại, bề ngoài và thực tế, người đàn bà và tình yêu, quyền lợi và bổn phận làm vua, thuốc độc và sự tham nhũng Trước hết, tất cả các hành động của Hamlet đều do hồn ma đặt ra cho Hoàng Tử, đó là sự báo thù cho người cha đã bị sát hại một cách ám muội. Tới lúc này, tâm hồn của Hoàng Tử bị dằn vặt bởi các câu hỏi như báo thù là một hành động tốt hay xấu ? Vua Claudius có thực sự phạm tội không và có đáng bị trừng phạt không ? Trách nhiệm trừng phạt có phải thuộc về Hamlet không ? Việc thi hành công lý thuộc về quốc gia hay nằm trong tay một người như Hoàng Tử và khi trả thù, làm sao phân biệt được một người xấu và một người tốt ? Các hoàn cảnh trả thù của Laertes và Fortinbras cũng tương tự và có nên trả thù hay không ?

Liên quan tới chủ đề trả thù là các suy tư trong tâm hồn của Hoàng Tử. Trong đời người, có phải do một quyền lực nào cao cả hơn, toàn năng hơn, đã hướng dẫn con người trong các hành động ? Khi hành động, Hoàng Tử Hamlet đã tự hỏi làm sao theo được thứ trật tự của vũ trụ, để cho cuộc đời mang đầy đủ ý nghĩa ? Hoàng Tử Hamlet đã theo đuổi công việc báo thù cho cha. Tâm hồn của Hoàng Tử có được coi là lành mạnh không ? Hoàng Tử có thực sự điên dại không ? Thế gian có thấu hiểu nỗi lòng bối rối của Hoàng Tử đối với mẹ, có thông cảm những lời Hoàng Tử nói ra không ? Đôi khi Hoàng Tử giả điên, còn vào các hoàn cảnh khác, tư tưởng của Hoàng Tử có bị mất quân bình không ? Một thứ điên dại khác là cách hành sử của nàng Orphelia và cùng các câu hỏi như kể trên có thể áp dụng cho thiếu nữ này.

Đại Văn Hào Shakespeare rất khéo léo khi trình bày các nhân vật hoàn toàn khác biệt nhau với các hành động được diễn tả theo nhiều cách, với các động lực mà người đời không thể thấu hiểu. Kết quả là không có cách diễn tả nào, không có một quan điểm nào nhất định khi cứu xét một vở kịch như Hamlet.

Không có tài liệu nào ghi rõ Bi Kịch Hamlet được sáng tác vào năm nào. Nhiều học giả cho rằng Đại Văn Hào Shakespeare đã viết ra vở kịch này vào cuối năm 1600 hay đầu năm 1601. Bi Kịch Hamlet khởi đầu một loạt kịch bản danh tiếng của Shakespeare trong Nền Văn Chương Thế Giới gồm Othello (1604), Vua Lear (1605-06) và Macbeth (1606).

D. Romeo và Juliet

Ngày xưa, tại một thành phố nóng nực của nước Ý tên là Verona, người dân đã đối xử tồi tệ với nhau và họ còn khuyên nhắc vợ con, bạn bè phải thù ghét lẫn nhau, và các mối thù được truyền đi từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cũng tại thành phố Verona có hai gia đình Montague và Capulet căm thù nhau : các người già cãi nhau om sòm ngoài đường phố, làm mất nhân cách còn các người trẻ đánh nhau nơi công cộng khiến cho có kẻ mất mạng. Sự ngu xuẩn của hai gia đình này làm cho Hoàng Tử của thành phố tức giận, ông ta đã ra một đạo luật ngăn cấm việc gây lộn ngoài đường phố và kẻ phạm pháp sẽ bị xử tử hình. Hai gia đình Montague và Capulet đành phải phục tùng luật lệ nhưng thực ra, mối thù vẫn còn bên trong lòng của họ.

Khi thấy con trai Roméo không dính dáng vào các vụ tranh chấp, Hầu Tước và bà Montague rất vui mừng nhưng họ không hiểu tại sao con trai quý của họ không được vui tươi. Họ hỏi thăm Benvolio, người trong họ và cũng là bạn của Roméo thì sau đó, Benvolio mới khám phá ra rằng Roméo đang yêu. Và người yêu của Roméo là Rosaline, một cô gái rực rỡ, lại chẳng đáp lại mối tình này. Để làm cho Roméo vui lên, Benvolio đề nghị cả hai người nên cải trang, bí mật tham dự buổi dạ hội của gia đình Capulet. Rosaline cũng sẽ tới đó và Benvolio hứa rằng sẽ tìm cho Roméo một cô gái đẹp, xuất sắc hơn Rosaline. Nghe đề nghị này, Roméo linh cảm thấy một sự nguy hiểm nhưng rồi cũng đồng ý ra đi, cùng với Benvolio và Mercutio, một người bạn khôn khéo.

Tối hôm đó, gia đình Capulet tổ chức dạ hội lớn vì Bá Tước Paris sẽ tới hỏi Hầu Tước Capulet xem có thể xin kết hôn với Juliet, cô con gái duy nhất hay không. Bá Tước Paris là một người có họ hàng với Hoàng Tử Escalus và là nhân vật độc thân sáng giá nhất của Thành Verona. Gia đình Capulet nói rằng Juliet mới 13 tuổi, chưa từng biết yêu và còn quá nhỏ, chưa tới tuổi lấy chồng. Dù sao, Hầu Tước Capulet cũng xúc động và bảo con gái phải làm vui lòng Bá Tước Paris khi gặp nhau lúc khiêu vũ.

Vào đêm dạ hội đó, Juliet đã gặp Roméo. Paris và Rosaline đều bị bỏ quên. Hai người trẻ kể trên đã nhìn thấy nhau, gặp mặt nhau và khi ôm nhau hôn, họ đã yêu nhau sau đắm. Nhưng một người bà con của Juliet tên là Tybalt đã nhận ra Roméo. Tybalt là người nóng tính, cho rằng một người thuộc gia đình Montague đến dự dạ hội mà không được mời, và đây là một điều xỉ nhục, anh ta thề sẽ trả thù. Sau khi buổi dạ hội chấm dứt, Roméo và Juliet cùng tìm hiểu về người yêu mới. Khi Roméo tránh xa các bạn bè ồn ào và ẩn mình dưới một tàng cây thì không ngờ, địa điểm này lại ở ngay dưới cửa sổ căn phòng của Juliet. Rồi trên ban công thơ mộng, hai kẻ yêu nhau đã thề thốt với nhau và quyết định kết hôn trong vòng bí mật.

Cha Lawrence, một tu sĩ giòng Franciscan và là cha sưng tội của Roméo, rất bận tâm về sự say mê đột ngột của hai người trẻ nhưng cuối cùng đồng ý sẽ làm lễ cưới cho đôi trẻ với niềm hy vọng rằng cuộc hôn nhân của chúng sẽ chấm dứt mối hận thù lâu đời giữa hai gia đình. Thế nhưng, thế giới tình yêu bí mật của Roméo và Juliet lại sớm bị tổn thương nặng nề. Tybalt đang tìm cách trả thù và đã gặp Roméo cùng đi với Mercutio và Benvolio. Tybalt đã gọi Roméo là tên đểu giả và thách đấu gươm, nhưng Roméo đã từ chối, gọi Tybalt là “người anh em bà con” và thề rằng đã yêu danh tiếng của gia đình Capulet như thanh danh của gia đình mình. Các bạn của Roméo đều ngạc nhiên về lời khước từ của Roméo và anh chàng nóng tính Mercutio đã nhận sự thách đố. Khi Roméo xông tới ngăn cản cuộc đấu gươm thì Tybalt đã đâm chết Mercutio.

Roméo cảm thấy có tội về biến cố mới xẩy ra, lại giận dữ vì cái chết của người bạn thân, nên đuổi theo Tybalt. Một trận đấu gươm sinh tử đã diễn ra và Roméo đánh thắng. Chỉ sau khi Tybalt đã chết, Roméo mới nhận ra sự liều lĩnh của mình nên tìm cách lẩn trốn.

Juliet lúc này rất phấn khởi vì đám cưới sắp tới, thì được bà vú báo tin xấu : người anh họ Tybalt đã bị giết và Hoàng Tử Escalus đã cấm Roméo không được lai vãng trong thành Verona. Bà vú cũng cho Juliet biết hiện nay Roméo đang trốn trong phòng của Cha Lawrence. Juliet lại vui mừng vì sẽ được xếp đặt một buổi tối thương yêu với Roméo trước khi chàng này trốn đi khỏi Verona.

Thế rồi sự việc lại đi từ xấu đến xấu hơn. Hầu Tước Capulet rất đau buồn vì cái chết của Tybalt và cho rằng ông sẽ làm cho mọi người trong gia đình vui lên khi sắp đặt đám cưới của Juliet lấy Bá Tước Paris. Juliet lại đau khổ! Sự từ chối cuộc hôn nhân này sẽ làm cho cha mẹ cô đau khổ và ngay cả bà vú nuôi cũng khuyên cô nên lập gia đình với Bá Tước Paris. Không biết trông cậy vào ai, Juliet đành chạy đến nhờ vả Cha Lawrence.

Cha Lawrence chỉ còn một niềm hy vọng, nhưng đây lại là một chương trình mạo hiểm. Cha cho Juliet một liều thuốc, uống vào sẽ làm cho nàng tắt thở, có vẻ chết trong 42 giờ và trong khoảng thời gian này, Cha Lawrence sẽ cho người đi Mantua tìm kiếm Roméo và rồi Cha và Roméo sẽ tới ngôi nhà mồ, nơi mà Juliet sẽ sống lại. Roméo sẽ mang nàng đi xa và Cha Lawrence sẽ an ủi mọi người, sẽ công bố cuộc hôn nhân của đôi trẻ để họ có thể trở lại vui sống tại Verona. Juliet nhận sẽ uống liều thuốc.

Sáng ngày hôm sau, khi bà vú nuôi tới chuẩn bị cho Juliet mặc thử áo cưới thì thấy nàng đã thành cái xác không hồn. Niềm vui của gia đình Capulet đổi ra nỗi buồn vô hạn bởi vì đám cưới của cô con gái duy nhất, nay trở thành một đám tang.

Trong khi đó, Cha Lawrence gửi một người thông tin đi tìm kiếm Roméo thì người này lại bị phong tỏa giữa đường vì bệnh dịch đồng thời, kẻ hầu Balthasar của Roméo lại báo tin cho Roméo biết rằng Juliet đã chết. Roméo bèn đi tìm mua thuốc độc và cấp tốc tới ngôi nhà mồ của gia đình Capulet. Tới nhà mồ, Roméo thấy Bá Tước Paris đang than khóc cạnh xác Juliet và khi Paris từ chối không để Roméo đi qua, hai người đã đánh nhau và cuối cùng, Roméo đã giết chết Paris. Lời yêu cầu cuối cùng của Bá Tước Paris này là được chôn gần Juliet. Trong nhà mồ, Roméo khấn cầu Tybalt tha thứ nhưng rồi vẻ đẹp của Juliet đã làm cho Roméo thẫn thờ, không muốn sống. Chàng thề nguyền sẽ sống bên người yêu mãi mãi nên đã uống liều thuốc độc và tắt thở.

Khi đến giờ Juliet tỉnh dậy, Cha Lawrence tới nhà mồ thì đã thấy Paris và Roméo nằm chết nên sợ quá, Cha đã bỏ chạy. Tỉnh dậy, Juliet nhìn thấy người yêu đã chết rồi trong khi các người khác đang đi tới phía bên ngoài, nàng phải hành động gấp bằng cách dùng cây dao găm của Roméo và tự sát.

Cái chết bi thương của hai người trẻ tuổi đã đoàn kết lại hai gia đình trong nỗi sầu muộn. Không phải bằng cuộc sống mà bằng cõi chết, hai kẻ thương yêu nhau đã mang lại hòa bình cho các gia đình của chúng.

1/ Vài nhân vật trong Bi Kịch “Roméo và Juliet”.

Truyền thuyết về Roméo và Juliet đã được kể lại nhiều lần hơn 100 năm trước khi William Shakespeare viết thành kịch bản. Vào năm 1476 trong cuốn sách Ý nhan đề là Il Novellino, tác giả Masuccio Salernitano đã kể về mối tình vụng trộm, về vụ giết người, vụ đầy đi khỏi xứ, về một nhà tu sẵn lòng giúp đỡ và cả về đám cưới của hai gia đình thù nghịch. Năm 1530, Luigi da Porta cũng kể lại câu chuyện tình này, gắn cho các nhân vật trong truyện các tên Ý và nơi diễn ra nghịch cảnh là thành phố Verona. Theo truyện của Da Porta, đôi tình nhân này cũng tự sát. Tới năm 1562 tại nước Anh, nhà thơ Arthur Brooke đã dùng đề tài này trong tập thơ dài “The Tragical Historye of Romeus and Julius” (Lịch sử bi thương của Romeus và Julius), đã đề cập tới một thứ đam mê không thánh thiện, một thứ tình yêu vụng trộm, sự không vâng lời cha mẹ và bất tuân luật pháp. Ngôn ngữ trong tập thơ của Brooke thì khô khan, thiếu hấp dẫn dù cho tác giả có cảm tình với cặp uyên ương.

Tới khi William Shakespeare dùng câu chuyện tình kể trên làm chất liệu cho vở bi kịch, thì Đại Văn Hào đã làm cho các nhân vật hành xử giống như chúng ta ngày nay : họ có các ưu điểm và khuyết điểm, có lúc nổi giận, có lúc khôi hài… Vở kịch “Roméo và Juliet” là một chuyện tình và một định mạng bi thương. Các nhân vật trong vở kịch đã suy nghĩ như thế nào, tại sao họ đã chọn các cách hành động như vậy?

Trong vở kịch “Roméo và Juliet” của Shakespeare, có hai loại nhân vật : loại chuyển biến (maturing characters) và loại thụ động (static characters). Các nhân vật chuyển biến đã phát triển và thay đổi qua thời gian, đã hành động theo nhiều cách tùy theo các hoàn cảnh khác nhau, gồm có Juliet, Roméo, Cha Lawrence, Hoàng Tử Escalus. Loại thụ động không thay đổi, hành động theo lề lối chúng ta có thể đoán ra được, gồm có bà vú nuôi, Mercutio, Hầu Tước và bà Montague, Hầu Tước và bà Capulet, Tybalt, Benvolio, Paris …

1) Juliet là một thiếu nữ trẻ, đang dần dần trở thành phụ nữ. Theo cốt truyện Ý, Juliet 18 rồi qua tập thơ của Arthur Brooke, cô ta 16 xuân xanh nhưng trong vở kịch của Shakespeare, Juliet mới 13 tuổi, thơ ngây và ôm nhiều hy vọng. Juliet rất đẹp và Roméo đã bị mê hồn lúc mới gặp nàng. Rồi ngay cả khi nằm trong ngôi nhà mồ, khi ngắm nhìn xác của Juliet, Roméo đã phải than rằng “Tử Thần đã hút đi mật ngọt trong hơi thở của em, nhưng bất lực trước sắc đẹp của em !”.

Juliet là một con người thực tế trong khi Roméo thuộc loại người lãng mạn. Trên bao lơn thơ mộng, Roméo thốt ra các lời yêu đương thì Juliet nói tới hôn nhân, bàn về lúc gặp nhau sắp tới và cách thông tin cho nhau. Juliet đã lớn lên bên cạnh bà vú nuôi và bà mẹ, đã muốn chiều lòng mẹ cha trong cuộc hôn nhân mai sau, nhưng nàng đã suy nghĩ và hành động cho chính mình khi gặp Roméo. Nàng biết rằng có nhiều vấn đề trên đời này, nhưng vẫn tin rằng “tình yêu” có thể giúp cho con người vượt qua được mọi trở ngại. Juliet đã không còn là một cô gái dễ vâng lời, mà là một phụ nữ trẻ chịu trách nhiệm về cuộc đời của chính mình.

2) Romeo là một thanh niên lương thiện, tốt bụng, lịch sự, đẹp trai, đã hôn tay Juliet một cách kính mến và gọi người đẹp là nàng tiên. Nhiều người đã ưa thích Roméo như Mercutio, Benvolio, bà vú của Juliet và ngay cả Hầu Tước Capulet đã gọi chàng là “người trẻ đức hạnh, biết kiềm chế”. Cha Lawrence cũng yêu mến Roméo và cố gắng làm cho chàng hạnh phúc. Không được nàng Rosaline đáp lại tình yêu, Romeo trở nên lẩn thẩn, đã từng lang thang trên đường phố hay giam mình trong căn phòng cô đơn. Nhưng tới khi gặp Juliet, Romeo mới khám phá thấy chính mình và tình yêu đích thực đã làm cho lời nói của Roméo trở thành các lời thơ! Tới khi phải bỏ trốn, đi cầu cứu Cha Lawrence, Roméo đã đánh mất chính mình, không còn khả năng hành động đúng cách. Tới khi biết rằng Juliet vẫn còn yêu mình, Roméo lại trở nên con người của hành động. Và trong ngôi nhà mồ, Romeo đã nói sẽ hành động như thế nào và tại sao. Thật là bi thương khi tình yêu trở thành sâu đậm nhất! Romeo đã tìm thấy chính mình khi tự sát.

Ngoài 2 nhân vật chính, còn có nhiều người khác như Cha Lawrence, một tu sĩ Cơ Đốc (Catholic) được kính trọng, có các đức tính và các yếu điểm, thường cố vấn cho Roméo bằng các lời dạy của Chúa và cố gắng dùng địa vị của mình để chấm dứt mối hận thù lâu đời. Hoàng Tử Escalus là một nhà cai trị Thành Verona, là người đại diện cho trật tự và luật pháp. Escalus đã ban hành các quy luật và mong đợi người dân tuân theo kỷ luật. Trước mối tình ngang trái của Roméo và Juliet, Hoàng Tử Escalus đã không hiểu rõ các tình tiết của sự việc và đã chấp nhận rằng chính mình không phải là thẩm quyền cuối cùng, và phán xét cuối cùng phải thuộc về Thượng Đế.

“Romeo và Juliet” là vở kịch có các chủ đề (themes) là tình yêu của hai người trẻ đối với mối hận thù của hai gia đình, tình yêu giả hiệu (false love) giữa Roméo và Rosaline khi Roméo tạo ra các tình cảm nhân tạo đối với người đẹp, tình yêu lãng mạn (romantic), đích thực (true love) và thuần chất (pure) giữa Roméo và Juliet. Hai người trẻ này đã gắn bó với nhau qua hôn nhân, sẵn lòng chết vì nhau hơn là bất trung với nhau. Cõi chết đã tới với hai kẻ yêu thương say đắm bởi vì “số mệnh” (fate) : Romeo đã bị đưa đường tới dạ hội của gia đình Capulet do một tên bạn mù quáng, các kế hoạch xây dựng của đôi trẻ đã gặp thất bại phải chăng là do “Thượng Đế ” đã an bài?

Ngoài ra trong vở kịch “Romeo và Juliet”, còn thấy rất nhiều tình tiết về trật tự công cộng đối nghịch với các xáo trộn ngoài xã hội, sự vô tội của đôi trẻ trước các lời khuyên bảo của bậc cha mẹ và các người cố vấn, các kinh nghiệm của những nhân vật khác trong kịch bản… Vở kịch đã trình bày tình cảm cô đơn khi Roméo và Juliet thấy Mercutio và Tybalt đã bị giết, và khi đó đôi trẻ mới hiểu rõ các tai nạn bi thương, các thất bại của con người và sự tàn ác trên thế gian ! Và cô đơn là hoàn cảnh Juliet bị bỏ rơi trước những người thân như cha mẹ, bà vú nuôi, Cha Lawrence và cuối cùng là người yêu Roméo.

Trong vở kịch “Romeo và Juliet”, mỗi nhân vật đã nói bằng thứ ngôn ngữ riêng, chứng tỏ giai cấp xã hội của từng người. William Shakespeare đã dùng 3 thể văn khác nhau để diễn tả các nhân vật, với thể hài kịch (comedy) mô tả lúc các người trẻ gặp nhau, yêu nhau, có các bạn bè vui vẻ và các người hầu thô tục. Đại Văn Hào còn dùng tới thể văn kiểu Ý (commedia del l’ arte) để nói về các bậc cha mẹ ngăn cách những kẻ mới biết yêu, nói về các người hầu bình luận về tình dục.

“Roméo và Juliet” là vở kịch chứa đựng bên trong rất nhiều loại bài thơ lãng mạn cũng như các bài thơ loại Sonnet.

2/ Bối cảnh lịch sử của Bi Kịch “Romeo và Juliet”.

100 năm trước khi Elizabeth I trở thành Nữ Hoàng, nước Anh đã gặp các tranh chấp hung bạo về chính trị và tôn giáo và ngai vàng của nước Anh đã bị lung lay. Từ năm 1455 tới năm 1485, các trận nội chiến đã làm tan nát đất nước và được gọi là “Cuộc Chiến Tranh của các Hoa Hồng” (the Wars of the Roses). Hoàng gia Anh đã chia thành 2 phe phái kình chống nhau kịch liệt. Một phe nhóm các hầu tước, bá tước, chủ trương ủng hộ giòng họ Lancaster , con cháu của Henry Bolingbroke, người tự xưng là Vua Henry-4, trị vì từ năm 1399 tới năm 1413 và lấy biệt hiệu là “Hoa Hồng Đỏ”. Phe nhóm thứ hai, cũng vì quyền lợi riêng của các bá tước, đã phò tá cho giòng họ York với biểu hiệu là “Hoa Hồng Trắng” và vào năm 1461, họ đã đặt lên ngai vàng của nước Anh Vua Edward-4, trị vì từ năm 1461 tới năm 1483. Vua Edward-4 chết sớm, người con trai nhỏ là Edward-5 bị bắt giam trong Tháp London bởi người chú là Vua Richard-3, trị vì từ năm 1483 tới năm 1485. Henry Tudor từ nước Pháp đã xâm lăng nước Anh, đánh bại Vua Richard-3 tại mặt trận Bosworth Field vào năm 1485 rồi lên làm Vua nước Anh, tức là Vua Henry-7, trị vì từ năm 1485 tới năm 1509. Vua Henry-7 lập gia đình với người đàn bà nối dõi giòng họ York vì thế chấm dứt mối hận thù giữa hai gia đình, nhà vua cũng hạn chế các tự do vô chính phủ của giới quý tộc phong kiến của nước Anh.

Vào năm 1502, Hoàng Tử Arthur của Vua Henry-7 đã cưới công chúa Catherine, con gái của Vua và Hoàng Hậu nước Tây Ban Nha. Nhưng không may, Arthur qua đời sớm. Vua Henry-7 bèn quyết định rằng góa phụ Catherine sẽ lấy người em chồng, người sẽ lên ngai vàng trong tương lai. Sở dĩ có vấn đề này bởi vì Công Chúa Catherine khi đi lấy chồng, đã mang theo một số hồi môn rất lớn, vào khoảng 5 triệu Mỹ kim của thời nay. Nếu Catherine trở về xứ Tây Ban Nha, số hồi môn đó sẽ không còn nằm trên đất Anh.

Năm 1509, Vua Henry-7 chết, nối ngôi là Vua Henry-8. Vị vua mới này không muốn lập gia đình với Công Chúa Catherine bởi vì không yêu và bà này lại hơn nhà Vua 6 tuổi. Nhưng vì quyền lợi của Ngai Vàng, Henry-8 phải chấp nhận.

Các nhà viết sử của thời kỳ đó đã mô tả Henry-8 là một thanh niên đẹp trai, thông minh, một nhạc sĩ có tài lại biết rành các tiếng Pháp, Tây Ban Nha và La Tinh. Henry-8 rất giỏi về thể thao, cưỡi ngựa…và lại là một con người sùng đạo. Khi Martin Luther bắt đầu thuyết giảng về Đạo Tin Lành, Vua Henry-8 bị giao động mạnh nhưng đã không tin vào các giáo điều mới nên đã viết ra một tập sách mỏng, lên án lời rao giảng của Martin Luther. Việc bảo vệ niềm tin Cơ Đốc Giáo (the Catholic faith) đã làm vừa lòng Giáo Hoàng La Mã và Vua Henry-8 được Giáo Hoàng phong tặng danh hiệu là “Người Bảo Vệ Niềm Tin” (Fidei Defensor = the Defender of the Faith).

Khi đã làm Vua nước Anh, Henry-8 cần tới con trai để cho Triều Đại Tudor có thể tiếp tục. Người con trai đầu tiên do Hoàng Hậu Catherine sinh ra, đã chết yểu. Sau đó là 3 công chúa có số mạng ngắn ngủi. Người con gái cuối cùng với Hoàng Hậu Catherine là Công Chúa Mary đã sống được, nhưng tới năm 1525 chấm dứt mọi hy vọng có thêm con. Lúc đó Hoàng Hậu Catherine đã 40 tuổi và Vua Henry-8, 34 tuổi.

Công Chúa Mary lớn lên và đính hôn với vị Vua tương lai của nước Pháp. Nếu Vua Henry-8 không có con trai, sau này Vua nước Pháp sẽ trở thành Vua của nước Anh và tương lại của Ngai Vàng nước Anh sẽ ra sao? Người dân nước Anh không bao giờ chấp nhận Vua nước Pháp cai trị họ. Các xáo trộn chính trị sẽ xẩy ra.

Muốn tránh các biến cố chính trị về sau, Vua Henry-8 đã thực hiện một quyết định quan trọng. Để có con trai mong muốn, nhà Vua phải ly dị Hoàng Hậu Catherine và lập gia đình với một người đàn bà khác. Vua Henry-8 đã xin phép Giáo Hoàng được quyền làm điều này. Nhưng khi đó Giáo Hội La Mã không chấp nhận việc ly dị và Giáo Hoàng cũng không dành cho Vua Henry-8 một ngoại lệ.

Vì tức giận trước việc từ chối của Giáo Hội La Mã nên vào năm 1533, Vua Henry-8 đã cưới bà Anne Boleyn, người mà nhà Vua yêu thương rồi sau đó, Nghị Viện nước Anh công bố rằng cuộc hôn nhân với Hoàng Hậu Catherine là bất hợp pháp và lần lập gia đình của nhà Vua với bà Anne Boleyn mới được coi là chính thức.

Việc coi thường quyền uy của Giáo Hoàng bởi Vua Henry-8 và Nghị Viện Anh đã gây nên rạn nứt giữa chính quyền Anh và Giáo Hội La Mã. Việc cắt đứt liên lạc này trở nên vĩnh viễn vào năm 1534, khi Nghị Viện Anh cho Vua nước Anh quyền bổ nhiệm mọi nhân vật đứng đầu tôn giáo và quyền thu nhận mọi lợi tức của Nhà Thờ trên đất Anh. Sau đó, Nghị Viện Anh cũng thông qua “Đạo Luật Tối Thượng” (the Act of Supremacy) và từ nay, Vua nước Anh trở nên “Nhà Lãnh Đạo Tối Cao của Nhà Thờ Anh Quốc”. Như vậy Vua Henry-8 đã trở thành “Giáo Hoàng” của Anh Cát Giáo và nhà Vua đã giải tán các tu viện trên đất Anh, ban phát tài sản của những nơi này cho các người tuân phục mình. Vì không chấp nhận Đạo Luật Tối Thượng, vị Thủ Tướng thời bấy giờ là Sir Thomas More đã bị chặt đầu vào năm 1535. Dân chúng nước Anh đã đứng về phía nhà Vua, vì niềm tự hào quốc gia. Cũng từ nay, tiếng Anh được dùng thay tiếng La Tinh trong các lễ nghi tôn giáo.

Vua Henry-8 lấy bà vợ thứ ba là Jane Seymour, sinh ra Hoàng Tử Edward-6, nhưng vị Hoàng Tử bệnh hoạn này đã qua đời vào tuổi 16 và người con gái lớn của Vua Henry-8 tên là Mary trở nên Nữ Hoàng của nước Anh vào năm 1553. Công Chúa Mary này khi trước được nuôi dạy theo Cơ Đốc giáo (Catholic) nhưng phải hứa không được lật đổ Nhà Thờ Anh Quốc. Thế nhưng, các cố vấn của Công Chúa Mary đã thuyết phục được Công Chúa kết hôn với Vua Philip của nước Tây Ban Nha và đặt Nước Anh trở lại tầm tay của Nhà Thờ Cơ Đốc (the Catholic Church). Rồi sau cuộc hôn nhân ngoại giao kể trên, Vua Philip rời khỏi nước Anh, và dưới quyền lực của Nữ Hoàng Mary, với tục danh gọi là “Mary đẫm máu” (Bloody Mary), các cuộc thanh trừng những người Tin Lành đã diễn ra, với hơn 400 tu sĩ bị hành quyết cho tới khi Nữ Hoàng Mary Tudor qua đời vì bệnh ung thư vào năm 1588. Tới lúc này, đất nước Anh thuộc về người em gái cùng cha khác mẹ của Mary là Công Chúa Elizabeth.

Khi trở thành Nữ Hoàng của nước Anh, Elizabeth I đã cho phép các thuyền trưởng người Anh đánh cướp các con tầu của Tây Ban Nha và Nữ Hoàng cũng trợ giúp các người Tin Lành nổi loạn tại xứ Hòa Lan. Vua Philip vì thế coi những người Anh này là các kẻ thù chính. Vào năm 1588, Vua Philip hạ lệnh cho Hạm Đội Armada gồm hơn 130 chiến thuyền lớn, ra khơi để tấn công và xâm lăng nước Anh. Hải Quân Anh khi đó chỉ gồm các con tầu nhỏ, nhưng nhanh hơn, lại được chỉ huy do các thuyền trưởng gan dạ như Sir Francis Drake, John Hawkins và Martin Frobisher… Một phần nhỏ của Hạm Đội Armada của Tây Ban Nha đã bị Hải Quân Anh phá hủy trên Eo Biển Channel, số còn lại tan tác vì một trận bão lớn.

Chiến thắng của Nữ Hoàng Elizabeth I đối với nước Tây Ban Nha đã mang lại hai thắng lợi : nước Anh được tự do và theo đạo Tin Lành rồi từ đó, Hải Quân Anh trở thành một lực lượng hùng mạnh bậc nhất của châu Aâu và Thế Giới.

Đại Văn Hào William Shakespeare đã viết ra Bi Kịch “Romeo và Juliet” vào năm 1596, 9 năm sau khi Nữ Hoàng Elizabeth I ra lệnh chặt đầu Nữ Hoàng Mary, Queen of Scots, và Bi Kịch này là phản ảnh của mối hận thù từ trong gia đình hoàng gia, đã làm chia rẽ đất nước Anh và đã gây ra hàng ngàn vụ giết người. Đại Văn Hào còn mô tả các nguy hiểm cho đất nước do một ông vua yếu hèn trong vở kịch Richard-II, hay từ một nhà cai trị tàn ác và bất chính như trong vở kịch Richard-III.

Ngày nay, mối hận thù trong vở kịch “Romeo và Juliet” có thể tượng trưng cho những người Cơ Đốc và Tin Lành hiện đang tranh chấp nhau, thù nghịch nhau trên mảnh đất Aùi Nhĩ Lan (Ireland).

4/ Toàn bộ tác phẩm của shakespeare

Comedy

All’s Well That Ends Well
As You Like It
The Comedy of Errors
Cymbeline
Love’s Labours Lost
Measure for Measure
The Merry Wives of Windsor
The Merchant of Venice
A Midsummer Night’s Dream
Much Ado About Nothing
Pericles, Prince of Tyre
Taming of the Shrew
The Tempest
Troilus and Cressida
Twelfth Night
Two Gentlemen of Verona
Winter’s Tale

History

Henry IV, part 1
Henry IV, part 2
Henry V
Henry VI, part 1
Henry VI, part 2
Henry VI, part 3
Henry VIII
King John
Richard II
Richard III

Tragedy

Antony and Cleopatra
Coriolanus
Hamlet
Julius Caesar
King Lear
Macbeth
Othello
Romeo and Juliet
Timon of Athens
Titus Andronicus

Poetry

The Sonnets
A Lover’s Complaint
The Rape of Lucrece
Venus and Adonis
Funeral Elegyc

Nguồn: vietsciences

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: