• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

KINH VIỆT và LẠC VIỆT: Chuyện kể từ Nhân học Phân tử

LÊ NGUYỄN K

 

Bài này nói về quan hệ giữa “người Kinh”, thành phần đông nhất trong người Việt Nam ngày nay, và “người Lạc Việt” xưa ở vùng nay là Bắc Bộ, Việt nam. Theo tin tưởng quen thuộc, người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn, là tổ tiên của người Việt. Nhưng có hoài nghi rằng tin tưởng này có thể do lầm lạc hay thậm chí nhận vơ như một số trường hợp trong lịch sử văn hóa thế giới. Một số người gốc Bách Việt nói tiếng Tai-Kadai (“Thái”) ở Trung quốc hiện nay cũng đã quen thuộc với một quan niệm được quảng bá nhân danh khoa học (“chứng minh”): Người Việt Nam đơn giản là dân có nguồn gốc Mon-Khmer Đông Nam Á (ĐNA) bị Hán Hóa nặng nề về di truyền và không thật sự có liên hệ gì với dân Lạc Việt ở Bắc Bộ thời Đông Sơn.
.

Trong bài này, vấn đề này sẽ được tìm hiểu trong giới hạn, và theo bối cảnh, các manh mối từ hiểu biết hiện có trong nhân học phân tử, bộ môn liên ngành dùng phân tích sinh học phân tử để nghiên cứu sự tiến hóa của các tộc người cổ sơ và quan hệ có thể có với con người ngày nay.

1. Việt và Bách Việt

Người Việt như có căn bản di truyền Mon-Khmer ĐNA, hay không phải là một trong các nhóm dân Bách Việt, là một quan điểm chưa có, hay chưa được phát biểu, trong buổi đầu của việc nghiên cứu người châu Á. Người Việt lúc đó ít nhiều được/bị xem như một trong các dân “nam Mongoloid” có nguồn gốc từ Trung quốc –trong thời chưa có gì gọi là Trung quốc. Cái nhìn này có từ giả thuyết của nhà khảo cổ Peter Bellwood (1985). Bằng cân nhắc ngữ học, Bellwood nói đến hai làn sóng di dân đến ĐNA Lục địa và Hải đảo -đợt đầu là người Australoid từ quần đảo Indo-Mã lai cách đây khg 40.000 năm, và đợt sau cách đây chỉ khg. 4-6 nghìn năm, là người Mongoloid phương nam, từ vùng nay là Triết Giang hoặc Phúc Kiến, Trung quốc.

Theo định hướng này, năm 1992, Ballinge và cộng sự công bố một nghiên cứu về mt-DNA (đại khái là di truyền theo giòng mẹ) của một nhóm 28 người Việt cùng 6 nhóm dân khác. Họ nghĩ họ đã cho thấy, các nhóm dân nam Mongoloid đúng là có một tổ tiên chung, và khác biệt với người cổ sơ thuộc đợt di dân đầu tiên. Di truyền của người Việt được thấy là đa dạng nhất, tức cổ xưa nhất (so với các nhóm dân được nghiên cứu), do đó ước tính niên đại của đặc trưng nam Mongoloid nơi người Việt cũng là ước tính niên đại thành hình của cội nguồn chung đó, ở nam Trung quốc.[1]

Nhưng ba năm sau, cái được xem là đặc trưng di truyền nam Mongoloid bắt đầu được nhận diện như cũng có ở ngay cả người không có ”đặc trưng Đông Á” hay loại hình Mongoloid, chỉ là một đột biến thông thường mà thôi.[2] Theo đó, chưa có một câu trả lời khả dĩ cho vấn đề khu vực phát sinh và niên đại của loại hình Nam Mongoloid. Nhưng còn giả thuyết rằng tổ tiên người Việt đến từ nam ”Trung quốc” cách đây 4.000 – 6.000 năm?

–Vũ Triệu An và các cộng sự Việt, Pháp của ông tìm câu trả lời bằng một tiếp cận khác: phân tích cấu trúc di truyền trong hai gien HLA (hệ thống ”kháng nguyên bạch cầu”) của 103 người Kinh ở Hà Nội và so sánh nó với di truyền của một số nhóm người ở Đông Á và châu Đại Dương. Kết quả là người Việt gần nhất với người Thái và các nhóm dân Trung quốc ở các địa phương khác nhau. Cho kết quả này là phù hợp với các bằng chứng khảo cổ và ngôn ngữ học, họ suy đoán là người Kinh có nguồn gốc từ dân Trung quốc và Thái-Java.[3a] Một nghiên cứu sau đó của nhóm chuyên gia này trên mt-DNA của 50 người Việt ở Hà Nội được cho là có kết quả hỗ trợ mạnh mẽ cho giả thuyết này.[3b]

Trông thì lạ lẫm, nhưng suy đoán này không xa với tin tưởng rằng tổ tiên người Việt là một bộ phận Bách Việt chạy xuống Bắc Bộ và pha trộn di truyền với người bản xứ. Và nó cũng có vẻ phù hợp với hiểu biết bắt đầu phong phú và có tính hệ thống về các nhóm đơn bội (haplogroup) chung quanh năm 2000.

Nhóm đơn bội là nhóm những cá thể có chung các đặc trưng di truyền nhất định tại cùng một vị trí trên DNA, gọi là SNP (single nucleotide polymorphism). Các đột biến chỉ định hay ”dấu gien” này là những biến đổi mà mỗi khi xảy ra chúng được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua hàng nghìn hay hàng chục nghìn năm. Các đơn bội mẫu hệ, mt-DNA, trong đó các dấu gien truyền theo giòng mẹ (mẹ truyền cho con, nhưng chỉ con gái mới truyền tiếp) biến hóa nhanh, phức tạp hơn Y-DNA (phụ hệ, truyền theo giòng cha), một phần vì thế mà sự phân tích y-DNA nhanh chóng trở nên thông dụng hơn.

Nhóm đơn bội Y-DNA/phụ hệ điển hình của Đông Á (ĐA, gồm cả Nhật, Hàn, Triều tiên và Mông cổ) và ĐNA là đại nhóm O, mà đột biến chỉ định quen thuộc là M175, do đó được kí hiệu là O-M175. Khg. 80-90% đàn ông ở Đông Á và Đông Nam Á thuộc về nhóm này và nó ít có hoặc không có nơi người bản địa của những nơi khác. Theo các số liệu Y-DNA người Việt, hơn 80% đàn ông Việt thuộc nhóm này, và như đa số người Mã Lai, Trung quốc, Nhật vv., họ có nguồn gốc từ một người đàn ông, mà cho đến năm 2005 được đồng thuận là sinh ra ở Siberia hoặc khu vực phía đông Trung Á cách đây khg 35.000 năm.

Phân bố của đại nhóm này có thể hình dung qua hình 1 -từ Wiki tiếng Anh, mà thông tin về O-M175 cũng như các nhóm con của nó không còn được cập nhật từ khg sau năm 2012, sau khi có những dấu hiệu gợi ý đại nhóm này phải phát sinh ở ĐA chứ không là ĐNA như giả định từ năm 2005.

Hình 1. Phân bố của đại nhóm 0-M175

Đó chỉ là một trong các chi tiết đầu câu chuyện. Từ thân cây O-M175 mọc ra ba nhánh O1, O2, O3 – nói theo đồng thuận cho đến năm 2014-, rồi từ chúng có thêm nhiều cành, nhánh con cháu, và do đó, nói chung, người nhóm O, ngoài dấu gien M175, còn có thêm nhiều đột biến khác thuộc thế hệ sau.

Trong khg 80% người Việt thuộc nhóm O, chỉ một số ít có M119 hay thuộc nhóm O1, gần một một nửa thì thuộc về O2a-M95, một phân nhánh của nhóm O2. Số còn lại (của 80%) thuộc nhóm O3-M122 (hay vắn tắt hơn, O-M122), tức là có M122 và thông thường, các đột biến thế hệ sau của nó, như M134 hoặc M7, thuộc về hai phân nhóm khác biệt của O3-M122. O2a-M95 sớm được cho là đặc thù Đông Nam Á (Su Binh et al. 1999, vv.) và cũng là đặc trưng của người nói tiếng Nam Á/ Mon-Khmer (van Driem 2007). O1a-M119 thì có nhiều nơi người nói tiếng Nam Đảo ở Đài loan và ĐNA Hải đảo. O3-M112 thì rất đông ở nhiều tộc người khác nhau ở Trung quốc, đông đáng kể ở Hàn quốc, Việt nam và một số nơi khác ở ĐNA, và đông nhất lại là một số tộc ít người ở đông bắc Ấn độ.

Để có một ý niệm cụ thể, có thể nhìn vào số liệu mà Tatiana và cộng sự cung cấp năm 2001.[4] Theo đó thì tần suất (”tỉ lệ”) O3-M122 của một số tộc người phi Hán (có trường hợp tự nhận là Bách Việt) là Hmong (”Miao”) 70%,  Xa 63%, Choang 16%, Thổ gia 53%, Mãn châu 38%, trong khi Mã lai có 31%, và Việt (Nam Bộ) thì 41%. Từ một nguồn khác sau đó vài năm, người ta biết, tính trung bình có khg 50% dân Hán thuộc nhóm này.

Do người Việt có tần suất cao của cả nhóm O-M122 lẫn nhóm ”đặc trưng ĐNA” (O-M95), việc cho rằng người Việt có nguồn gốc ”nửa Bắc nửa Nam”, hay nửa ”Bách Việt” nửa bản địa, cũng là điều dễ hiểu trong bối cảnh hiểu biết lúc đó. ”Bách Việt” ở đây dĩ nhiên hiểu theo nghĩa tổ tiên của những dân phi Hán mà sau thời Ngô, Việt được sách cổ gọi chung chung là Bách Việt và ”từ Giao Chỉ đến Cối Kê chỗ nào cũng có” (xem thêm về ”Baiyue” trên Wikipedia)

2. Bách Bộc Mon-Khmer và ”Bách Việt”

Nhưng phía chuyên gia Trung quốc bấy giờ đã sẵn có một định nghĩa khác về Bách Việt, mà theo đó họ –thoạt nhìn tương tự như những người Việt theo một quan niệm bản địa cực đoan- cho rằng tổ tiên của người Việt không có liên quan gì đến người cổ đại ở vùng đất nay là Trung quốc, và cái điểm ”gần với người Trung quốc” (như có nhiều M122) trong di truyền người Việt hiện nay ”hiển nhiên” là do Hán hóa, chỉ có từ thời Bắc thuộc mà thôi.

Li Hui, một chuyên gia trẻ, nhắc đến định nghĩa này trong một bài viết về các tộc Bách Việt bằng tiếng Trung đăng trên tập san ”Nghiên cứu tộc người ở Quảng Tây” năm 2002, như sau: Người Bách Việt có tiếng nói gốc là ngôn ngữ Tai-Kadai (hay ”Daic”) và di truyền Y-DNA của họ đều có ”một số lớn đột biến M119, M110 hoặc M95, M88”. Những dân khác hiếm khi có các dấu gien này, có tiếp xúc với Bách Việt thì họ cũng chỉ có rất ít.[5]

Đó là nói theo kết quả nghiên cứu về người Tai-Kadai ở nam Trung quốc, mà trong một thông báo ngắn bằng tiếng Anh nơi Li đứng tên chung với Li Jin, một chuyên gia có tiếng, 4 dấu gien trên cũng chỉ được đề cập như đặc điểm chung của dân Tai-Kadai chứ không thấy nói, Bách Việt nhất định phải là như thế. Dù sao, với định nghĩa này, Li đơn giản bác bỏ cái nhìn trong sách cổ về người Kinh (một nhóm dân Bách Việt ở Giao Chỉ) cũng như một số tộc người phi Hán ở Trung quốc. Như người Mường, người Kinh trong căn bản di truyền Y-DNA chỉ như người Bách Bộc, dân thuộc ngữ hệ Mon-Khmer ở Vân Nam mà thôi, Li nói.

Điều này quả thật dễ hiểu khi người Kinh chỉ có, như Li nói thoáng qua, khg 6% thuộc nhóm O1a-M119 mà thôi.

Sau đó bài viết này được nhắc đến như một (trong hai) bằng chứng hỗ trợ, trong một nghiên cứu viết bằng tiếng Anh, về gốc tích người Kinh, mà Li đứng tên chung với nhiều người khác, công bố năm 2006.[6] Các tác giả này nghiên cứu mô thức vân tay, chỉ tay vv. (dermatoglyph) của 135 người Kinh (chủ yếu từ Hà Nội và Huế), đem so sánh với các tộc ít người Trung quốc (các nhóm ”Bộc Việt” Mon-Khmer và ”Bách Việt” Tai-Kadai), và họ thấy người Kinh có đặc điểm dermatoglyphic gần gũi với một số tộc người, nhưng có ý nghĩa là sự gần gũi với các dân Deang, Blang ở Vân Nam.

Kết quả này tự nó chưa nói lên được gì, nhưng với những quả quyết chắc nịch, như ”Tại Việt Nam, nhóm Daic ở phía bắc từng có tương tác nhiều nhất với người Kinh, không phải nhóm Mon-Khmer ở phía tây [bán đảo Đông Dương, mà số liệu di truyền cực kì giống người Kinh]”, Li và cộng sự khẳng định, ”Do đó, người Kinh có thể có nguồn gốc Mon-Khmer, không chỉ trên mặt ngôn ngữ, mà còn ở tầng di truyền.” Đi xa hơn, họ suy đoán -thật ra là dựa vào một ”nghiên cứu” của J.R. Chamberlain (1998) nhưng không dẫn nguồn-, rằng người Kinh không có liên quan gì đến người Lạc Việt xưa ở Bắc Bộ, mà nguyên là dân Mon-Khmer ở miền trung Lào, hoặc xa hơn nữa về phía tây, có mặt rất trễ ở Bắc Bộ và chỉ phát triễn mạnh từ thời Tùy, Đường.

Bản đồ dưới đây, hình 2, lấy từ một bài viết tiếng Trung khác, trong đó Li đứng tên chung với hai tác giả khác. Công bố năm 2011, nhưng nó phản ánh tin tưởng ngay từ đầu của Li vv. về địa bàn của các dân Tai-Kadai, Nam Đảo vv.. Bài này là bản sao có thêm bớt của một nghiên cứu được công bố trong tiếng Anh, trong đó bản đồ này không có.[7]

Hình 2. Địa bàn của các ngữ hệ phi Hán theo Li Hui et al. Hmong-Mien và Lolo-Burman được cho là cũng từ ĐNA đi lên.

Trở lại với nghiên cứu về người Kinh. Lí giải của nhóm Li (hay đúng hơn, của Li) có một số điểm cần làm sáng tỏ. Nhưng chính phương pháp nghiên cứu vân tay, chỉ tay vv. thì bộ môn này từng bị hoài nghi, phê phán là tùy tiện, chủ quan trong sự so sánh, giải thích, và năm 2009, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mĩ đã phải đưa ra một báo cáo về sự thiếu khoa học trong nền tảng của nó; x. link dẫn theo [8]. Sự kiện là bài này, và một vài nghiên cứu khác, là tiếng nói cuối của phương pháp dermatoglyphics trước khi nó biến mất trong nghiên cứu tộc người.

Về số liệu di truyền Y-DNA Kinh, Mường được Li thoáng nhắc đến như một hỗ trợ, thì mãi về sau, trong nghiên cứu năm 2011, Li mới cho thấy nó ra sao (x. Table 1, trong [7]: Nó không đủ tính đại biểu (chỉ dựa trên 15 người Kinh và 12 người Mường) và thô sơ, không được phân giải đủ sâu (như các số liệu được công bố trước và sau đó chỉ một năm!) để Li thấy một khác biệt quan trọng giữa người Việt và người Bách Bộc Vân Nam cũng như một số dân Mon-Khmer cổ sơ: M88 thường thấy nơi người Việt (Nam Bộ)  và đặc biệt người Kinh (Hà Nội); x. Karafet et al (2010) và He et al (2012), sẽ đề cập. Do đó nói ”số liệu di truyền [của các dân này] cực kì giống người Kinh” là quá chủ quan và –nhìn từ khg. năm 2011- sai lầm nghiêm trọng.

Cũng cần nói thêm là, ”định nghĩa di truyền Bách Việt” ở trên khá li kì một khi biết rằng đột biến M110 là dấu gien của một nhóm con của O1a-M119, và M88 là dấu gien thế hệ sau của O2a-M95. Chính Li cũng bỏ nó đi trong một nghiên cứu về người Choang đăng tải cuối năm 2006, thay vào đó một đặc điểm chung khác của ”Bách Việt” được đề cập, nhưng M119 và M95 vẫn có vai trò quan trọng.

Nhưng cứ tạm cho là có sự ”cực kì gần gũi” với di truyền Mon-Khmer, thì điều này cũng chưa đủ để nói nguồn gốc di truyền của người Kinh phải là thuần túy Mon-Khmer ĐNA– nói đơn giản thì hai móc xích giống nhau không có nghĩa là chúng nằm trong cùng một sợi xích. Và, nếu từ đó mà phải suy đoán về nơi phát tích của tổ tiên người Việt, thì –để chỉ nói theo bối cảnh hiểu biết lúc bấy giờ- suy đoán trên của Li không thể nói là trỗi vượt so với giả thuyết được nhà khảo cổ Charles Higham đề xướng: Những di dân đầu tiên đến vùng nay là Bắc Bộ Việt Nam cách đây khg 4.000 năm là người từ khu vực hồ Động Đình, thuộc ngữ hệ Nam Phương (Austric), được giả định là cội nguồn chung của tiếng Nam Á và Nam Đảo.[9]

Giả thuyết này hiển nhiên làm liên tưởng đến tin tưởng/quan điểm rằng ”người Việt cổ” ở vùng Dương tử, vì bị dồn ép mà phải chạy dần xuống phương nam, cuối cùng định cư ở đồng bằng sông Hồng cách đây 4 nghìn năm. Nhưng một quan điểm như thế đã bị Li lên án ngay từ đầu bài viết, như không có căn bản, của ”bọn cánh hữu Việt Nam áp đặt khg đầu thập niên 1980 để phá hoại tình hữu nghị Trung-Việt.”[6]

3. Việt Nam: Đất tổ của Tai-Kadai và Nam Đảo?

Hai bài viết đã dẫn của Li Hui cho thấy rõ một tiền kiến về vùng cội nguồn của người Tai-Kadai ”Bách Việt” và người Kinh, Mường Việt nam, Bộc Việt ở Trung quốc cùng các nhóm dân khác. Nó được sử dụng và trình bày cho cộng đồng khoa học quốc tế trong các nghiên cứu mà Li có vai trò chỉ đạo, đầu tiên qua bài viết được đăng tải năm 2008 về quan hệ di truyền giữa Tai-Kadai và Nam Đảo.[10]

Quan hệ di truyền như thế đã được nhắc qua trong bài viết của Li về ”Bách Việt” năm 2002. Trong nghiên cứu năm 2008, từ sự khảo sát Y-DNA của người Nam Đảo (thổ dân Đài Loan và một số lớn dân ĐNA Hải đảo), Li và cộng sự khẳng định rằng, nhóm đơn bội phụ hệ O1a-M119 là chủ đạo, cốt lõi di truyền của dân Tai-Kadai nam Trung quốc cũng như của người Nam Đảo ở Đài Loan và ĐNA Hải đảo.[11] Do niên đại của nhóm này (hay của đột biến M119) nơi dân Tai-Kadai được nhận diện như lớn hơn nơi dân Nam Đảo, và do không thấy có sự lan tỏa của M119 từ Đài Loan đến ĐNA Hải đảo, họ quả quyết ”ĐNA Hải đảo không phát sinh trực tiếp từ thổ dân Đài Loan,” “[thổ dân] Đài Loan và dân ĐNA Hải đảo (…) có nguồn gốc từ dân Daic [hay Tai-Kadai] một cách độc lập. Do đó, chỉ có thể là các nhóm dân ĐNA Hải đảo chủ yếu phát sinh từ vùng quanh vịnh Bắc Bộ [lúc nó còn là đất liền], đất tổ của dân Daic.”

Sẽ khó mà hiểu cái ”do đó” của Li và cộng sự nếu không đề cập đến tiền đề về ”Con đường phương Nam” (Southern Route), mà cho đến vài năm gần đây có thể được hiểu đại khái như sau: Người hiện đại rời châu Phi đến châu Á theo một con đường chính độc nhất cách đây 60-100.000 năm, các đặc trưng di truyền Đông Á (như nhóm phụ hệ O-M175 và các nhóm con của nó, vv.) đã thành hình trên con đường này hoặc tại chính ĐNA trước khi người hiện đại tiến vào Đông Á.

Giả thuyết này đã sớm bị hoài nghi, thách thức. Trong một nghiên cứu dài hơi, đồ sộ của Tatiana Karafet và cộng sự (2001), ta thấy một đánh giá như sau về các công trình nền tảng của giả thuyết này: ”Kết quả của chúng tôi … gợi ý rằng vài kết luận gần đây liên quan đến nguồn gốc của các tộc người Đông Á có thể chưa chín chắn. Chúng tôi không thấy cái quan hệ cha-con đơn giản giữa các tộc người ĐNA và ĐBA được đề nghị do Su [Bing] và cộng sự (1999) và Chu [Y] và cộng sự (1999).”[4]

Nhưng thật nhanh, với sự hấp dẫn của ý tưởng ”Bắc tiến” và một lượng lớn các nghiên cứu từ người Trung quốc theo định hướng này, nó gần như trở thành một chân lí hiển nhiên. O2a-M95 và O1a-M119 được tin là có nguồn gốc phương nam dù có nhiều điều không giải thích được, ví dụ vì sao chúng cũng có rải rác ở Đông Á (M95) hoặc Bắc Á (M119), vv. như Karafet và vài tác giả khác đã chỉ ra. Cũng thế, ”ngoại hình” Mongoloid của người Đông Á được nghiễm nhiên xem là đã sẵn có ở ĐNA trước khi người (khôn sáng) hiện đại tiến lên phía bắc, dù cho đến nay không một nghiên cứu nào nói được, cấu trúc gien nào hay nhóm đơn bội nào đã làm nên loại hình đó.[12]

Trở lại với nghiên cứu của Li và cộng sự. Với nó, ”Con đường phương Nam” bị thay đổi nội dung một phần: không còn chuyện đại nhóm O phân nhánh từ vùng biên Miến-Điện – Vân Nam, rồi O1a-M119 ”ghé” bắc Thái lan, Lào, đến đồng bằng sông Hồng vv. [12], thay vào đó một bộ phận O-M175 được cho là không đi theo đường rừng núi ĐNA vào ĐA, mà đi dọc theo bờ biển rồi sinh ra O1a-M119, như Li cũng nói rõ trong một bài viết không kĩ thuật năm 2011.[13] Cùng với tin tưởng về khu vực Quảng Đông như nơi phát sinh dân Tai-Kadai, giả định này khiến vùng quanh vịnh Bắc Bộ phải trở thành nơi thành hình và sinh tụ của nhóm O1a-M119 cách đây khg. 33.765 năm.

Lưu ý là niên đại được nêu ra ở trên, cũng như được ghi trong bản đồ hình 2, cần được hiểu như để cho có một mô tả suôn sẻ. Cho đến thời gian gần đây, các phép tinh niên đại các nhóm đơn bội vv. thường đưa ra những kết quả rất khác biệt nhau. Trừ phi được liên hệ với chứng liệu thích hợp (khảo cổ, vv.) thì chúng chỉ là điểm qui chiếu mà thôi.

Nghiên cứu của Li và cộng sự là một thách thức hướng về một số các thẫm quyền ngôn ngữ, khảo cổ, mà trực tiếp là giả thuyết phổ biến về nguồn gốc người Nam Đảo, thuyết ”Out of Taiwan” (Khởi phát từ Đài Loan –từ đây gọi là OOT) bắt nguồn từ Bellwood, vv. Theo thuyết này, dân ĐNA Hải đảo có nguồn gốc từ một làn sóng di cư của dân biết trồng cấy từ Đài Loan khg 4-6 nghìn năm trước. Chúng ta đã thấy Li và cộng sự quả quyết là không hề có một cuộc di cư như thế của nhóm O1a-M119 từ Đài Loan, mà từ vùng vịnh Bắc Bộ (x. bản đồ di cư trong [10])

Ở đây, ghi nhận rằng thông tin từ di truyền Y-DNA của người Chăm có một vai trò trong lí giải đưa đến kết luận trên, nhưng chỉ có 11 người Chăm Bình Định được khảo sát, trong đó hết 9 người thuộc nhóm O1a-M119 (90,9%) – như thể tần suất cao đáng ngờ này phải như thế, để nói lên ’sự kiện’ từ cả chục nghìn năm trước vùng vịnh Bắc Bộ và Trung, Nam Bộ đã thuộc về ”Bách Việt” và Nam Đảo (x. bản đồ địa bàn ngôn ngữ ở trên.)

Nhưng nghiên cứu của Manfred Kayser và cộng sự  về sự di cư của người Nam Đảo, được đăng tải gần như đồng thời với nghiên cứu của nhóm Li,[14a] có thể lập tức làm dấy lên hoài nghi: Có lẽ nhóm Li đã không đủ kĩ lưỡng khi tìm hiểu về nhóm O1a-M119. Như Kayser và đồng sự cho thấy, có một cuộc di cư từ Đài Loan, không do nhóm O1a-M119, mà do nhóm con cái của nó, nhóm O1a-M110 -mà Li và cộng sự cho biết họ cũng có khảo sát! Phát hiện của nhóm Kayser được tái khẳng định và bổ sung hai năm sau đó với một công trình quan trọng khác của Tatiana Karafet và cộng sự.[14b]

Li không nhắc gì đến thách đố của mình nữa trong bài viết cho một hội thảo liên ngành năm 2011, nhưng vùng vịnh Bắc Bộ vẫn được khẳng định là nơi phát sinh của tổ tiên Daic-Nam Đảo.[13] Thật ra, tin tưởng này đã trở nên bất ổn ngay từ năm 2010, do kết quả của một nghiên cứu qui mô về di truyền giòng mẹ của người Chăm (và người Kinh, ở một mức độ đủ để so sánh), của một nhóm chuyên gia Trung – Việt.[15a] Họ thấy di truyền Nam Đảo không có mấy ảnh hưởng đến dân bản địa, mà ”nhiều khả năng nhất là người Mon-Khmer”. Nghiên cứu kế tiếp của họ về Y-DNA Chăm đã làm điều này trở nên chắc chắn và cụ thể hơn nữa: căn bản di truyền của người Chăm là Mon-Khmer, còn lại, do tiếp thu mà có, là một ít Nam Đảo và, về sau, Ấn Độ.[15b]

Thế là cái nhìn của Li Hui về vùng đất Trung và Nam Bộ như địa bàn của tổ tiên Nam Đảo trở thành lạc điệu. Phát hiện về người Chăm nêu trên rõ ràng cũng gợi ý rằng, hướng lan tỏa của ”tổ tiên Tai-Kadai” là từ phía bắc xuống chứ khó có thể từ phía nam lên, một điều trở thành hiển nhiên vài năm sau đó.

5. Từ Đông Dương đến Hải đảo

Mô hình OOT về nguồn gốc của dân ĐNA Hải đảo được nhiều nghiên cứu di truyền xác nhận. Mặt khác, vài nghiên cứu mà nổi bật là công trình đồ sộ năm 2009 của tổ chức HUGO Pan-Asian… lại gợi ý nó không có: Do sự đa dạng di truyền của vùng ĐNA nói chung, người Đông Á có nguồn gốc ĐNA, và tương tự, dân Nam Đảo Đài Loan có nguồn gốc ĐNA Hải đảo! Có vẻ như phe nào cũng có điểm mạnh, và điểm yếu riêng, không ai thuyết phục được ai (có thể xem lại vđ. đa dạng di truyền, ct [1] và bài báo trên Nature, ct [12]).

Tất nhiên không ai muốn tình trạng này. Nghiên cứu về người Chăm nêu trên có thể xem như phản ánh ý muốn đánh giá các quan điểm qua từng trường hợp cụ thể. Cũng thế, và đồng thời với nó, là nỗ lực của Tatum Simonson và cộng sự nhắm vào người Iban, ”Dayak Biển”, ở bang Salawak, phần đất tây bắc Borneo thuộc Mã lai.[16] Nhóm chuyên gia này dùng một phương pháp bấy giờ còn khá mới mẻ, đó là phân tích autosomal DNA (atDNA, tạm hiểu là phân tích thành phần tộc người) như công cụ chính, bên cạnh phân tích Y- và mt-DNA. Đối tượng dùng để so sánh là các nhóm dân Nam Đảo khác, bên cạnh người Nhật, Trung quốc, Việt, Campuchia, Thái.

Kết quả là, người Iban nếu có chịu ảnh hưởng di truyền từ Đài Loan thì ảnh hưởng đó phần thì ít, phần thì chưa được nhận diện rõ ràng –không có việc một làn sóng di cư từ Đài Loan xóa sạch di truyền bản địa sẵn có. Nhưng di truyền bản địa này rất lạ: Các phân tích atDNA nhìn chung cho thấy, thành phần tộc người của dân Iban gần nhất với các nhóm dân ở ĐNA Lục đia và Indonesia, còn phân tích mt-DNA và Y-DNA chỉ bổ sung thêm cho nhận thức này mà thôi. Theo mô hình nhiều đợt di dân của Karafet,[14b] trong đó sự di cư từ Đài Loan chỉ là một trong hai đợt muộn nhất, và dựa vào Y-DNA người Việt (!), nhóm chuyên gia này suy đoán rằng, tổ tiên người Iban chủ yếu là di dân từ lục địa ĐNA trước khi có đợt di cư từ Đài Loan.

Hình 3. Những con đường di cư

Trong hình 3, mũi tên dài, nhạt màu là đợt di cư tối cổ từ châu Phi qua Ấn độ vv., mũi tên ngắn hơn là đại khái đường di cư được suy đoán, của tổ tiên người Iban khg. 12 – 6 nghìn năm trước. Những con số là số thứ tự các nhóm dân được phân tích. (So với hình gốc, hình này thiếu mất tên ”biển Nam TQ.)

Kết quả và suy đoán mà nhóm Simonson đưa ra thúc đẩy một số chuyên gia từ Thái lan thực hiện một nghiên cứu kĩ lưỡng về atDNA của dân Thái lan. Họ nhận diện được một nền tảng di truyền nằm bên dưới atDNA của dân Thái lan hiện nay và cho thấy, nền tảng này cũng tương tự như atDNA của người Iban. Qua sự ”khoanh vùng di truyền”, họ suy đoán rằng nơi phát xuất của tổ tiên người Iban có thể là khu vực trung tâm Thái lan. Nhưng họ cũng thừa nhận là không thể loại trừ khả năng người Iban có gốc gác từ Campuchia hay Việt Nam ngày nay, do người Việt và Campuchia cũng chia sẻ nền tảng đó.[17]

Nhưng người Iban là một trường hợp quá đặc biệt, và giải thích của nhóm Simonsen cũng như các chuyên gia từ Thái lan cũng lệ thuộc vào các giả định và mô hình mà nhìn chung, bị Mark Lipson và đồng sự đánh giá là thiếu thuyết phục.[18] Lí do chính, theo họ, là kĩ thuật phân tích của các nghiên cứu trước đây không có chỗ cho sự hòa trộn di truyền (admixture) Nam Á – Nam Đảo trước khi nhóm này hay nhóm kia có mặt đông đảo ở ĐNA Hải đảo. Sự pha trộn di truyền Nam Á – Nam Đảo đó không chỉ là một khả năng, mà là sự kiện đã được thoáng thấy nhưng chưa được giải thích khách quan.

Trong công trình độc đáo, tinh vi về mặt toán học của họ, nhóm chuyên gia này phát triển một mô hình phân tích atDNA mới, trong đó họ ước tính là sự pha trộn di truyền xảy ra đâu đó chỉ trong vòng 2.200 năm qua mà thôi. Và mô hình này ”tiên đoán” được sự pha trộn di truyền Nam Á-Nam Đảo trong các nhóm dân ở khu vực phía tây Indonesia, qua đó xác định được gốc tích Nam Á trong thành phần di truyền của người Nam Đảo ở đây.

Đây không còn là suy đoán vì thấy có sự tương đồng, mà là kết quả tính toán (để hình dung: bỏ người H’tin ở Thái lan như một ứng viên ”tổ tiên”, thì mô hình của họ đòi hỏi phải có một ứng viên Nam Á khác thế chỗ). Và nó cũng đầy ý nghĩa vì khẳng định rõ ràng, gốc tích ĐNA Lục địa trong di truyền của người Nam Đảo phải tìm nơi người nói tiếng Nam Á hay có di truyền điển hình Nam Á, chứ không phải người cổ sơ mông lung trên dưới 10 nghìn năm trước. Điều này phù hợp với một nghiên cứu quan trọng năm 2015, về sai lầm nội tại trong ước tính trước đây về niên đại của các nhóm đơn bội như O2a-M95 vv. Chính các niên đại quá lớn này đã làm người cổ ĐNA di cư ra các hải đảo sớm hơn ”sự thật” cả chục nghìn năm.

Vấn đề như thế trở nên sáng tỏ hơn. Nhưng mô hình của họ, dù là một bước đột phá, vẫn không có khả năng tính được thời điểm và nơi chốn mà cuộc ”hòa huyết” đầu tiên xảy ra. Và không thấy có lí do để tin là người Nam Á đã di cư đến vùng tây Indonesia trước người Nam Đảo Đài Loan, họ đoán một nhánh phía tây của dân này đã gặp và pha trộn di truyền với người Nam Á ở Việt Nam hoặc quần đảo Mã Lai, rồi chính nhóm dân pha trộn này từ đó mà di cư (x. Discussion, [18]).

 Nhưng suy đoán này bị Petro Soares và đồng sự bác bỏ.[19] Trong nghiên cứu sâu rộng, kéo dài nhiều năm của họ, nhóm Soares đưa ra một phát hiện quan trọng: Một mặt, dân ĐNA Hải đảo và thổ dân Đài Loan có cùng nguồn gốc di truyền từ hàng chục nghìn năm trước –nhưng khác với suy đoán của HUGO Pan-Asian, hướng phát tán là từ Đài Loan chứ không ngược lại. Mặt khác, phân tích của họ cũng xác nhận quan điểm đối nghịch, rằng đúng là (về sau đó) có có hai lượt di cư đến ĐNA Hải đảo, một từ Đài Loan và một từ ĐNA Lục địa.

Nhưng họ nghĩ lượt di cư từ ĐNA Lục địa có trước, khg. 500 năm trước cuộc di cư từ Đài Loan, và cả hai đều ở tầm mức giới hạn chứ không như Lipson và người khác nghĩ. Theo đó, sự ”hòa huyết” dĩ nhiên không xảy ra tại Việt Nam giữa Nam Đảo Đài Loan và … ”người Việt cổ” vv. trong vòng 2.200 năm qua, mà giữa dân bản địa ở các hải đảo và các nhóm di cư từ lục địa ĐNA, mà theo các nghiên cứu khảo cổ được Soares nhắc đến, có thể là người Đa Bút cách đây khg. 4.500 năm!

Lí giải của nhóm Soares không thuyết phục được đối phương, không phải vì mô hình Lipson mới đây (2016) đã chứng tỏ sức mạnh của nó qua việc ”tái khám phá” các cuộc di cư cổ đại từ châu Phi mà không cần một giả định định tùy tiện (ad hoc) nào, mà vì phân tích của nhóm Soares vẫn có tính suy biện, nhìn chung thì cũng theo cách từng bị nhóm Lipson phê phán. Và nếu các đợt di cư theo họ đều chỉ là rời rạc, lẻ tẻ, thì trong trường hợp từ di cư từ lục địa ĐNA, phải giải thích làm sao sự kiện toàn vùng tây Indonesia đều có vết tích di truyền Nam Á? Lipson nói trong thư riêng, rằng nghiên cứu của Soares ”không phải là tiếng nói quyết định”.[20]

Quả thật, Soares và đồng sự không có một tính toán nào loại trừ được khả năng pha trộn di truyền xảy ra sau đợt di dân từ Đài Loan, nếu nó không xảy ra tại Việt Nam. Tức là trong chính lí giải của họ vẫn còn có khả năng người Nam Á đi ra các hải đảo và ít nhiều pha trộn di truyền với người Nam Đảo đã ở đó từ trước. Và nếu như thế, hẳn phải có một vài nhóm nào đó mà sinh hoạt đủ biệt lập để di truyền theo giòng cha của họ ít nhiều vẫn như cha ông. Một trường hợp là người Dayak Biển trong nghiên cứu của Simonson và cộng sự!

6. Từ đất Đông Sơn ra biển cả

Người Iban hay Dayak Biểnở Sarawak, phần đất nay thuộc Mã lai, thì không phải là nhóm Dayak ở Indonesia trong nghiên cứu của nhóm Lipson, một trong những dân mà, theo Lipson và cộng sự, trong atDNA của họ có một phần đáng kể bắt nguồn từ tổ tiên của các tộc người nói tiếng Nam Á ở ĐNA. Nhưng hai bên cùng một gốc, và như thế người Iban cũng có một phần nguồn gốc di truyền Nam Á. Nhưng như nghiên cứu của nhóm Simonson cho thấy, người Iban rõ ràng đặc biệt hơn nhiều  – nổi bật nhất là di truyền giòng cha của họ khá giống người Việt ở các nhóm đơn bội, và tần suất các nhóm này nơi họ thì nhìn chung sai khác tương đối không lớn so với người Việt (x. Table S3, [15]). Sự tương đồng phải nói là đến mức khó tưởng tượng khi so sánh với số liệu Y-DNA người Kinh, lấy từ He et al (2012) và ”sơ hóa” lại cho tiện so sánh.

Hình 4. Các nhóm đơn bội Y-DNA nơi người Iban và Việt/Kinh

Số liệu Y-DNA của người Việt vv. trong nghiên cứu của Simonson và cộng sự có từ một nghiên cứu từ năm 2003. Lượng người được khảo sát ít, chưa đủ tính đại biểu, nhưng nhóm Simonson dùng nó vì chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cho phân tích at-DNA. Để có một so sánh tốt hơn, và thích hợp cho mục đích bài viết này, do đó cần có số liệu Y-DNA của người Kinh, Mường, nhưng đáng tiếc là chúng ta chỉ có số liệu khả tín cho trường hợp người Kinh mà thôi.

Như hình 4 cho thấy, khi thay Y-DNA người Việt (9 người, Nam Bộ) bằng Y-DNA người Kinh (76 người, Hà Nội) thì chẳng hạn ”khá giống” ở trên phải thay bằng ”100%”.

Hình 5. PC analysis, Simonson et al (2011)

 Đương nhiên, để hình dung rõ hơn về sự gần gũi di truyền theo giòng cha giữa người Iban và người Việt/Kinh, cần phải nêu số liệu các nhóm dân khác. Tuy nhiên Principle component analysis như được minh họa trong hình 5 (lấy từ Fig. 3, [15]) còn nói được nhiều hơn thế.

Ở đây, như các tác giả giải thích, “PC1 phân cách thổ dân Đài loan, người Philipin, Nusa Tenggara … với người Iban, các dân ĐNA khác và những dân Trung quốc. Sự cách biệt giữa người Iban và một nhóm thổ dân Đài loan dựa trên PC1 bác bỏ mạnh mẻ ảnh hưởng Đài loan trên người Iban. Từ PC2, người Iban, Việt, Trung quốc, Philipin và thổ dân Đài loan ở cùng một nhóm (“cluster”) khác với người Mã lai, Nam Borneo, và khác biệt cực kì với Nusa Tenggara …”[16]

Có thể thấy nhiều điểm quan trọng từ giải thích trên, mà một trong đó là: Như đối với trường hợp dân Dayak, PC1 cũng “bác bỏ” dấu tích di truyền Nam Đảo nơi người Việt mà nhóm Lipson nghĩ đến trong suy đoán rằng người Nam Đảo Đài loan đã “hòa huyết” tại Việt Nam trước khi di cư tiếp. Phân giải sâu hơn về nhóm O1a-M119 nơi người Kinh ([15b]) cũng cho thấy, người Kinh chỉ có O1a-P203*, là nhóm có thể có nguồn gốc lục địa, chứ không là một phân nhóm O1a thường thấy ở dân Nam Đảo Đài Loan, đó là O1a-M110.

Điểm thứ hai là sự việc đứng chung nhóm với Trung quốc, Nam Đảo Đài loan vv. trong PC2. Có thể nói, điểm này phản ánh sự gần gũi đặc biệt giữa Việt (Kinh) và Iban so với các dân ĐNA khác, nhất là các tộc Nam Á/Mon-Khmer cổ sơ. Điều này cũng có thể hé lộ phần nào cội nguồn cách đây khg 8.000 năm trước của hai nhóm dân này, nhưng để nói cho rõ, cần có một bài viết khác. (Đúng ra sắp có, để nói trọn vẹn một số điều còn rơi rớt trong bài này. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần tìm hiểu kĩ để bài viết không phải là một suy đoán bay bổng).

Câu hỏi là, Có thể nói được gì về sự gần gũi Việt/Kinh và Iban như phác họa ở trên?

-Như đã đề cập, nhóm Simonson chỉ phân tích Y-DNA và mt-DNA ở mức hỗ trợ cho phân tích atDNA, đủ để suy đoán rằng tổ tiên người Iban đã di cư từ lục địa ĐNA trước khi có cuộc di cư từ Đài Loan. Chỉ riêng sự tương đồng trong tần suất các nhóm đơn bội giòng cha giữa Iban và Việt thôi mà họ đã nói nó “phản ánh giòng gien giống đực chảy từ ĐNA”. Tuy nhiên, do không có số liệu Y-DNA của các dân ĐNA khác, và số liệu Việt của họ cũng không đạt chuẩn, nên con đường di cư trong suy đoán của họ phải là đại khái như minh họa trong hình 3 (từ Campuchia).

Nhưng với số liệu Y-DNA người Kinh đã so sánh với các dân Nam Á khác (không nêu ra để bài viết không quá dài và khô khan), bên cạnh sự hỗ trợ từ xâu chuỗi di truyền qua nghiên cứu của nhóm Lipson, chúng ta có một khả năng rất cao mà trình bày ở trên đưa đến: Sự tương đồng khó tưởng tượng giữa di truyền Y-DNA người Kinh và người Iban cho thấy hai bên có cùng một tổ tiên gần nhất ở Bắc Bộ hoặc vùng lân cận, hay nói cách khác tổ tiên gần nhất của người Dayak Biển là những đàn ông “Việt cổ” đã di cư từ Bắc Bộ hoặc gần đó!

Nhưng rõ ràng những người cổ đó không thể là tổ tiên dân Tai-Kadai (nhiều đột biến M119, M110), cũng như nói chung không thể là tổ tiên những tộc người có di truyền Nam Á nhưng khác biệt Y-DNA với người Việt/Kinh. Vì thế Bắc Bộ là nơi có nhiều khả năng nhất so với khu vực lân cận.

Và không thể nghĩ đó là những người thuộc Văn hóa Đa Bút vv. từ khg 4,5 nghìn năm trước. Có thể người Đa Bút hay Nam Á hoặc Nam Phương cổ sơ nào đó có di cư, nhưng không có lí do hay chứng liệu khảo cổ nào cho thấy một cuộc di cư đông đảo lúc đó (x. Discussion, [18]). Nhưng phải có một cuộc di cư ít nhiều trong tầm mức hàng loạt mới giải thích được vì sao di truyền của toàn vùng tây Indonesia vv. lại có dấu ấn đậm nét của người Nam Á. Như đã nói, đây chính là một điểm yếu trong lí giải của nhóm Soares, cũng là điểm góp phần làm nhóm Lipson vẫn giữ nguyên ý kiến về sự “hòa huyết” trong vòng khg 2.200 năm qua, dù suy đoán của họ bị nhóm Soares bác bỏ.

Thế thì ứng viên thích hợp hơn cả phải là người Việt cổ ở Bắc Bộ cách đây trên dưới 2.500 năm – người Lạc Việt Đông Sơn!

Ngoài ra, có người Đông Sơn di cư thì cũng dễ giải thích một sự kiện khó giải thích đối với mô hình OOT: Đột biến M88 hầu như vắng bóng ở ĐNA Hải đảo trừ khu vực Indonesia, theo một mô thức nhất định: Từ khu vực này, tần suất M88 ít hẳn đi về phía bắc, đến Đài Loan mới có một ngoại lệ (Trejaut et al 2014). O2a-M88 (nhóm con của O2a-M95) là nhóm đông đảo nhất trong người Việt / Kinh. Sự kiện này cũng sẽ rất khó giải thích nếu những người Nam Á di cư là một tộc người không có M88, như Wa, Deang, Blang ở Vân Nam vv.

Trong phạm vi hiểu biết hiện có về Y-DNA của người Iban, khả năng người Đông Sơn như cha chung của Kinh và Iban thì khó có thể phủ nhận dù rằng một phân giải sâu về Y-DNA Iban có thể cho thấy những khác biệt tinh tế (chẳng hạn Iban có khá ít M88 so với Việt / Kinh). Cũng ghi nhận là khả năng này cũng giải thích hợp lí, hay dễ dàng, sự  lan tràn của dấu ấn Văn hóa Đông Sơn nơi nhiều tộc người Indonesia vv. mà Tạ Đức đã đề cập. Trong tương quan này tác giả cũng cung cấp cho chúng ta một lí do để hiểu vì sao người Đông Sơn ra đi – qua khẳng định rằng, tổ tiên người Dayak ở Borneo vv. chính là những người Lạc Việt Đông Sơn di tản sau khi bị đánh bại (sdd. trong [9], Phụ lục 16b).

Việc người Đông Sơn di tản vì chiến bại không nhất thiết đòi hỏi thủ lĩnh người Đông Sơn phải là vua An Dương hay sự thua chạy phải xảy ra ngay trong thời Nam Việt Triệu Đà. Nhưng cho dù có sớm hay muộn hơn, sự thua trận hoặc một nghịch cảnh có tầm vóc lớn lao thường vẫn là lí do khiến đông đảo người rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, lũ lượt di cư tìm đất sống khác. Đây cũng là một điểm cho thấy người Đông Sơn có khả năng di cư cao hơn tổ tiên các tộc người Nam Á ở vùng lân cận Bắc Bộ. Người Lạc Việt ở Quảng Tây thì, theo số liệu từng được phổ biến, khó có thể nói là giống với người Kinh trong di truyền giòng cha, dù rằng các nghiên cứu gần đây đều cho thấy atDNA của Lạc Việt Quảng Tây và Kinh Việt rất gần nhau, ít nhất giống hơn là Li Hui vv. muốn nghĩ.

7. Thay lời Kết

Người của một nền văn hóa cổ tại một khu vực / nước không nhất thiết có quan hệ gì với người hiện đang sống ở nước, khu vực đó, vì thế không có gì lạ khi nhiều học giả phương tây không mặc nhiên xem người Việt, nhất là Kinh Việt, có quan hệ gì với người Lạc Việt Đông Sơn. Tuy nhiên không phải vì thế mà có cái nhìn từ phía chuyên gia Trung quốc rằng người Kinh (và Mường) có nguồn gốc từ trung Lào và chỉ mới đến Bắc Bộ giành đất sống của dân Tai-Kadai trong vòng 2 nghìn năm qua.

Như từng được chỉ ra ở diễn đàn viethoc.com (trước khi nó bất chợt ngưng hoạt động năm 2011 ?), cái nhìn này bắt nguồn từ một suy đoán tùy tiện của J.R. Chamberlain – nó không có chỗ dựa trong cả ngữ học lẫn sử học. Sự kiện Li Hui gần như đưa nguyên vẹn suy đoán trên vào bài viết của mình mà không nêu rõ xuất xứ [6] thoạt nhìn tưởng chừng như đạo văn, nhưng nghĩ lại thì điều đó chỉ cho thấy, lúc bấy giờ suy đoán đó có vẻ đã trở thành một thứ chân lí hiển nhiên, quen thuộc với các chuyên gia trẻ Trung quốc. Có lẽ người ta đã hân hoan quảng bá vì nó phù hợp với một ý định chính trị cũng như đáp ứng ước muốn có một câu trả lời dễ chấp nhận, cho nguồn gốc các tộc ”Bách Việt”. Một câu trả lời khác, vững chắc, đã có từ vài năm qua, chuyện còn lại là bao giờ điều này được đưa vào kiến thức phổ thông.

Trong trường hợp người Việt, như hàm ngụ trong bài này, sự phát triễn của ngành nhân học phân tử trong vòng 15 năm qua đã đưa đến cái nhìn phù hợp với khảo cổ vv., rằng từ khg 4.500 năm qua vùng đất nay là Việt Nam là đất sống của di dân nam Mongoloid nói tiếng Nam Á, bên cạnh hoặc lẩn lộn với một số cư dân Hòa Bình còn sót lại ở nội địa. Đáng tiếc chưa thể nói Người Kinh, Mường… có quan hệ ra sao với những di dân đầu tiên ở Bắc Bộ và vùng phụ cận. Điều chắc chắn là, do thành quả nghiên cứu về di truyền của người Mán Bạc gần 4.000 năm trước, chúng ta có thể khẳng định một liên hệ theo giòng mẹ giữa những người Bắc Bộ cách đây khg 4 nghìn năm và người Việt ngày nay (Ken-ichi Shinoda 2010).

Như trong bài này cũng cho thấy, nhân học phân tử đã cung cấp những manh mối giúp thiết lập một liên hệ theo giòng cha giữa người Việt / Kinh và người Đông Sơn qua trung gian Y-DNA Dayak Biển, phù hợp với hiểu biết từ các bộ môn khoa học khác. Trong phạm vi hiểu biết hiện tại, có thể nói người Việt / Kinh dù bị chia lìa với truyền thống văn hóa Đông Sơn, cả cái đẹp lẫn cái … ít đẹp, nhưng di truyền theo giòng cha của họ vẫn là sự tiếp nối từ con người làm ra Văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ trên 2.000 năm trước (hay từ gần 3.000 năm trước, nếu muốn).

Để chấm dứt: Như bảng số liệu Y-DNA ở trên cho thấy, người Kinh có một ít C-M217 và có một số đáng kể O-M122. Đó là điều làm ra ấn tượng rằng người Kinh, về di truyền, bị Hán hóa vv. nặng nề từ thời Bắc thuộc trở đi. Ấn tượng này tương đối khó bác bỏ trừ phi viện dẫn cặn kẻ hiểu biết hiện tại về gốc gác và phân nhánh của hai nhóm trên. Tuy nhiên người Dayak Biển cũng có M217 và M122 với tần suất tương đối không xa người Kinh. Điều này cho thấy, trong cộng đồng cha ông Kinh Việt đã có hai nhóm này từ rất lâu, ít nhất là nhiều thể kỉ trước thời tộc Hán di cư hàng loạt sang vùng phía nam sông Dương tử.

………………………………………………………………………………………………………

Tham khảo (chọn lọc) & Chú thích

1. SW Ballinger et al (1992) ”Southeast  Asian  Mitochondrial DNA Analysis  Reveals  Genetic  Continuity of Ancient  Mongoloid  Migration.” Genetics (Jan) 130 : 139-52. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1204787/pdf/ge1301139.pdf. Lưu ý là sự kiện ”di truyền của dân Xyz đa dạng nhất” tự nó chưa có nghĩa là nhóm dân đó cổ xưa nhất, như về sau nhiều người đã khẳng định sau khi HUGO Pan-Asian SNP Consortium (từ đây gọi tắt là tổ chức HUGO Pan-Asian…) đưa ra một công trình qui mô về nguồn gốc ĐNA của người ĐA (2009). Lí do là sự hội tụ của nhiều nhóm dân, hay ”hòa huyết” (admixture), cũng có thể làm nên sự đa dạng này.

2. A. Torroni et al. (1995) ”About the “Asian”-specific 9-bp deletion of mtDNA…” Am J Hum Genet. (Aug) 57(2): 507–508.https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1801542/?page=1

3. a/ Vu-Trieu A. et al (1997), ”HLA-DR and -DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population from Hanoi.”Eur J Immunoget (Oct) 24(5):345-56. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9442802 (Abstract), b/ Ivanova R. et al (1999), ”Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population”.  Eur J Immunoget (Dec) 26(6):417-22. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10583463 (Abstract).

4. Tatianna Karafet et al (2001). ”Paternal Population History of East Asia: Sources, Patterns, and Microevolutionary Processes.” Am J Hum Genet. 69(3):615–628.http://dx.doi.org/10.1086/323299. Dữ liệu Y-DNA của người Việt được Karafet và đồng sự thu thập từ năm 1997, và số liệu công bố trong nghiên cứu này là số liệu đầu tiên. Về sau, dữ liệu này được trình bày với phân giải sâu hơn, như được thấy trong T.M. Karafet et al (2005) và T.M. Karafet et al (2010). Về nhóm O-M122, một ghi chép chi li -nhưng không còn được cập nhật- là  https://en.wikipedia.org/wiki/Haplogroup_O-M122.

5. ”这些群体的Y染色体遗传结构体现出相当大的一致性, 而与其他系统中研究过的群体完全不 同。他们都有大量的M119、M110 或M95、M88 突变, 而外族极少有这些遗传标记, 与百越接触 少的群体则没有”Li Hui (2002) http://loca.fudan.edu.cn/lh/Doc/A07.pdf. Người đọc không biết tiếng Trung có thể tạm xem https://huvi.wordpress.com/2012/09/19/co-cau-di-truyen-bach-viet-2/ Lời bình của người dịch làm nghĩ, ông không thấy lí do Li Hui loại người Việt ra khỏi Bách Việt.

6. Hui Li et al. (2006) ”Dermatoglyph Groups Kinh Vietnamese to Mon-Khmer”, Intl. Jnl. Anthropology. 21:295–306. http://loca.fudan.edu.cn/lh/Doc/B09.pdf.

7. Xiaoyun Cai et al (2011), ”Human Migration through Bottlenecks from Southeast Asia into East Asia during Last Glacial Maximum Revealed by Y Chromosomes”. PLoS ONE 6(8): e24282, https://doi.org/10.1371/journal.pone.0024282. Phiên bản tiếng Trung nơi tin tưởng về địa bàn của các hệ ngôn ngữ được nói rõ, là http://loca.fudan.edu.cn/coca/PDF/2011/COMONCA05-036.pdf Ghi nhận rằng, dễ dàng thấy số liệu di truyền Y-DNA của Kinh, Mường trong hai bài này là số cũ mà Li đã nhắc đến trong bài viết năm 2002 nhưng không nêu cụ thể.

8. https://en.wikipedia.org/wiki/Dermatoglyphics.

9. Charles F.W. Higham, ” Archeology, Linguistics and the Expansion of East and Southeast Asian Neolithic”, trong R. Blench, M. Spriggs (ed.), Archeology and Language: Correlating archeological and linguistic hypotheses.  Routledge (London, New York) 1998. https://books.google.com/books?id=DWMHhfXxLaIC&pg=PA103&hl=da&source=gbs_toc_r&cad=3#v=onepage&q&f=false Để có một một ý niệm về giả thuyết Higham, điểm mạnh, yếu của nó cũng như của các giả thuyết khác (Chamberlain vv.), có thể xem Tạ Đức, Nguồn gốc người Việt người Mường, nxb Tri Thức 2013, tr. 29-40. http://www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/nguon-goc-nguoi-viet-nguoi-muong-chuong-1

10. H. Li et al (2008) ”Paternal genetic affinity between western Austronesians and Daic populations”, BMC Evolutionary Biology. 8:146. http://bmcevolbiol.biomedcentral.com/articles/10.1186/1471-2148-8-146. Nghiên cứu thứ hai là về sự ”bắc tiến” của Mon-Khmer và Hmong-Mien từ ĐNA, vùng được nghiễm nhiên giả định như nơi phát sinh của hai dân này; x. Cai et al 2011, [7].

11. Một hệ luận ở đây, mà Li Hui ở nơi khác (ví dụ x. [13]) có vẻ thừa nhận một cách bí hiểm, là, dân ”Bách Việt” nào có nhiều O2a-M95 thì dân ấy là nguyên là Nam Á/Mon-Khmer (nhưng không nhất thiết là ”Bách Bộc”) bị ngôn ngữ và di truyền Tai-Kadai xâm chiếm. Điều này đúng như nghiên cứu về sau cho phép nói, và nhiều dân ”Bách Việt” ở nam Trung quốc là như vậy!

12. Jerold Edmonson (2007) có một trình bày sống động về Con đường phương Nam như một chân lí khoa học: ”The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam.” http://www.uta.edu/faculty/jerry/pol.pdf. Là một nhà ngôn ngữ học nhưng vị này có vẻ tin nhiều hơn vào giải đoán của các chuyên gia sinh học phân tử Trung quốc. Cũng lưu ý là trong bài này, loại hình Mongoloid được nghiễm nhiên xem như sẵn có ở ĐNA. Phải hai năm sau, suy đoán này, cũng như giả thuyết về Con đường Phương Nam mới được hỗ trợ, thoạt nhìn, do một nghiên cứu của tổ chức HUGO Pan-Asian – có thể xem http://www.nature.com/news/2009/091210/full/news.2009.1139.html. Tổ chức này có dấu ấn đậm nét của tài trợ và chuyên gia Trung quốc, ít nhất cho đến thời gian gần đây.

13. Li Hui (2011), ”Common origin of the Austronesian and Daic Populations”. Communication on Contemporary Anthropology, 5:e28/173-177 http://loca.fudan.edu.cn/coca/PDF/2011/COMONCA05-028.pdf. Một bản dịch đáng đọc (trừ một hai hạt sạn), được thấy ở đây: http://kattigara-echo.blogspot.com/2013/03/coi-nguon-chung-cua-cac-cu-dan-nam-ao.html

14. a/ Manfred Kayser et al (2008), ”The Impact of the Austronesian Expansion: Evidence from mtDNA and Y Chromosome Diversity in the Admiralty Islands of Melanesia.” Mol Biol Evol 25 (7): 1362-74 https://doi.org/10.1093/molbev/msn078;  b/ T. Karafet et al (2010) ”Major East–West Division Underlies Y Chromosome Stratification across Indonesia.” Mol Biol Evol 27 (8): 1833-1844. https://doi.org/10.1093/molbev/msq063. Trong Karafet et al (2010), lần đầu tiên M88 (đúng hơn, một dấu gien ngang hàng với nó, M111) được cho biết là có với số lượng đáng kể nơi người Việt.

15. a/ Min-Sheng Peng et al (2010), ”Tracing the Austronesian Footprint in Mainland Southeast Asia: A Perspective from Mitochondrial DNA.” Mol Biol Evol 27 (10): 2417-2430. https://doi.org/10.1093/molbev/msq131; b/Jun-Dong He et al (2012), ”Patrilineal Perspective on the Austronesian Diffusion in Mainland Southeast Asia. PLoS ONE 7(5): e36437. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0036437.

16. Tatum S. Simonson et al (2011), ”Ancestry of the Iban Is Predominantly Southeast Asian: Genetic Evidence from Autosomal, Mitochondrial, and Y Chromosomes.” PLoS ONE 6(1): e16338. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0016338.

17. Pongsakorn Wangkumhang et al (2012), ”Insight into the Peopling of Mainland Southeast Asia from Thai Population Genetic Structure.” PLoS ONE 8(11): e79522 https://doi.org/10.1371/journal.pone.0079522

18. Mark Lipson et al (2014), ”Reconstructing Austronesian population history in Island Southeast Asia.” Nat Commun (august) 5:4689 https://dx.doi.org/10.1038%2Fncomms5689.

19. Pedro A. Soares et al (2016), ”Resolving the ancestry of Austronesian‑speaking populations”. Hum Genet 135 (3):309–326. https://dx.doi.org/10.1007%2Fs00439-015-1620-z

20. Viết cho một người trong nhóm Lipson và cố tình không đề cập đến nghiên cứu của Simonson và cộng sự, tôi nêu ý tưởng người Đông Sơn di cư, chứ không phải dân Nam Á chung chung đã ảnh hưởng đến di truyền người Dayak. Tôi cũng nói xa gần về phân tích của Soares lq. đến ĐNA Lục địa như có phần gượng ép. Lipson trả lời ”Tôi nghĩ những gì anh nói là sự thật,” nhưng mô hình tính toán và giới hạn đặt ra lq. đến dữ liệu các nhóm dân được nghiên cứu (chỉ những dân ĐNA cổ sơ ”tinh tuyền về di truyền”) không cho phép nói hơn. Lipson nhắc tôi xem lại phần thảo luận trong bài viết của nhóm ông để nói, họ vẫn có lí do để vẫn giữ nguyên ý kiến dù ”không tính được hướng và thời điểm pha trộn di truyền lần đầu tiên (…) Và tôi hoàn toàn đồng ý với anh là nghiên cứu của của Soares không phải là tiếng nói quyết định.”

Nguồn: VHNA

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: