• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Cuộc đời Đức Phật

BBCCuộc đời Đức Phật

Khi bạn muốn có một tín ngưỡng, một niềm tin, hãy tìm hiểu đến căn cội của niềm tin ấy! Trong bối cảnh ở Việt Nam, hễ cứ Tết Nguyên đán xong là mùa lễ hội, kéo dài miên mải, chúng ta dễ dàng nhận ra  một sự thật rằng, phần đông trong số lạy lục cầu cúng mải miết nơi cửa chùa chiền ấy, không mấy người tìm hiểu về Đức Phật và những thông điệp mà “Đấng giác ngộ” ấy muốn gửi tới chúng sinh, rằng Ngài không thể giúp được gì cho họ cả, Ngài đơn giản giúp chúng ta khai mở TÂM VÀ TUỆ mình, để tâm – tuệ được soi sáng. An lạc là khi ta chủ động nhận hiểu quy luật sống và đón nhận nó trong sự nỗ lực cải thiện. Chúng tôi trân trọng đăng lại toàn bộ phần thuyết minh bộ phim về cuộc đời Đức Phật do hãng BBC sản xuất để bạn đọc tham khảo.

………………………………………………………….

500 năm, trước khi Chúa Giê- su ra đời, một hoàng tử trẻ đã mở ra một con đường. Ngài đã trải qua đau đớn và khổ ải để đạt tới Niết Bàn – niềm hạnh phúc vĩnh hàng mà tất cả chúng ta đều ước vọng đạt tới. “- Biểu tượng của an lạc! Biểu tượng của Từ bi và phi bạo lực! Đó chính là Đức Phật!” (Đức Đatlai Latma).

Ngài trưởng thành trong một cung điện xa hoa. Khi còn thơ ấu, đặc quyền đã cho phép ngài hưởng thụ mọi sự nuông chiều. Nhưng, một ngày, Ngài đã từ bỏ tất cả để có được trí tuệ tận cùng.

“Ngài đã du hành đến những ngóc ngách sâu thẳm nhất của tâm trí để trực diện đối mặt với Ma- tâm bên trong. Đức Phật đã thành lập nên tôn giáo đầu tiên trên thế giới mà hiện nay có hơn 400 triệu tín đồ – một tôn giáo sử dụng Thiền định để đạt tới trạng thái an lạc và hạnh phúc tuyệt đối. Sử dụng tiềm năng và nỗ lực của chính bản thân chúng ta để biết về thực tại tối thượng”. (phát biểu của Đức Đatlai Latma).

Và các sự kiện trong cuộc đời Ngài đã là một câu chuyện vĩ đại – và Đức Phật là một biểu tượng tồn tại vĩnh cửu.

2500 năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, giáo pháp của Người vẫn tồn tại.

Đức Đatlai Latma lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng, tiếp tục truyền đạt các giáo huấn của Đức Phật, tiếp nối một truyền thống đã xuất hiện ngay sau khi Đức Phật nhập Niết bàn.

Đạo Phật được nhiều nền văn hóa tiếp nhận và diễn giải theo những cách khác nhau. Những lời dạy của Đức Phật về một trạng thái tinh thần tĩnh tại và sáng suốt, được nhiều người cho đó là tôn giáo, người khác lại cho đó là triết học hay khoa học tâm lý trị liệu!

Đức Đạtlai Latma: “Nhiều người cho rằng Đạo Phật không phải là một tôn giáo mà là khoa học của tâm trí”.

Ngày nay, giáo huấn của Đức Phật vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù đã trải qua 2500 năm. Nguyên nhân khiến Đạo Phật phổ biến như vậy là do sự sâu sắc của nó và rõ ràng là Đức Phật đã khám phá ra nhiều thứ cực kỳ quan trọng. Khác với các tôn giáo khác, Phật gáo hướng tới tập trung vào TÂM TRÍ và không có một Đấng Quyền Năng Tuyệt Đối, mà thay vào đó là một Bậc Thầy Vĩ Đại – Đức Phật hay còn gọi là Đấng Giác Ngộ! Điều đó hết sức tự nhiên trong một thời kỳ mà nhiều người cho rằng tâm lý học là một lựa chọn thay cho tôn giáo – Nghĩa là một phương thức trị liệu để đối phó với các vấn đề trong cuộc sống. Và điều này rất dễ được nhiều người tiếp nhận.

Có rất nhiều cách để thể hiện Đức Phật. Và trong tâm thức của mỗi Phật tử đều có riêng một hình ảnh của Ngài. Đatlai Latma: “Một sự giao hòa giữa An lạc tuyệt đối và phi bạo lực. Tôi nghĩ hẳn phải là như vậy!”

Chỉ mới gần đây, khoảng 100 năm trước, Phương Tây hoàn toàn không biết gì về cuộc đời của Đức Phật, cho đến khi người Anh chiếm Ấn Độ làm thuộc địa. Ấn Độ, đất nước nơi Đức Phật đản sinh, Đạo Phật đã từng huy hoàng rồi tàn lụi. Bị các vị vua Hindu và quân Hồi giáo xâm lược và tàn phá, khiến cho các dấu vết khởi nguyên và địa điểm gắn với cuộc đời Đức Phật cũng đã bị mất tung tích. Cho đến khi một nhà khảo cổ người Anh bắt đầu thám hiểm vùng Bắc Ấn và những khám phá của họ đã làm hiển lộ một sợi dây gắn kết cuộc đời Đức Phật với những sự kiện lịch sử.

Vào những năm 1860, nhiều nhà khảo cổ đã cố gắng xác định các địa điểm gắn bó với cuộc đời Đức Phật. Cho đến những năm 1890, rất nhiều địa điểm đã được xác định thành công trong khu vực Ganges. Nhưng khi đó, hai địa điểm quan trọng nhất đối với Phật giáo vẫn chưa được khám phá, đó là Lâm – tì – ni (Lumbini) nơi Đức Phật đản sinh và Thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu) nơi Đức Phật sinh sống vào thời niên thiếu. Những địa điểm này nằm ở phía bắc Ganges và ít nổi tiếng, một phần vì những địa điểm này nằm trong khu vực rừng rậm, có nhiều hồ và căn bệnh sốt rét.

Lúc này, nhân loại cần một phát hiện mang tính đột phá để hé mở câu chuyện về nguồn gốc của Đức Phật! Ở một ngôi làng xa xôi, qua cả biên giới Nepal, người ta đã phát hiện được một cột đá. Một nhóm người Anh được cử đến để giải mã các chữ khắc trên cột – đó là cổ ngữ Brami – ngôn ngữ của người bản địa Bắc Ấn. Và, các dòng chữ trên cột đá nói rằng: Đây là nơi Đức Phật (Đấng Giác Ngộ) đản sinh! Phát hiện này là bằng chứng đầu tiên để chứng tỏ rằng: Đức Phật – không chỉ là một truyền thuyết, Ngài thực sự đã tồn tại! Những văn bản cổ xưa của Phật giáo đã gọi nơi Đức Phật đản sinh là Lâm-tì-ni và bây giờ các nhà khảo cổ đã định vị được nó trên bản đồ. Và họ chỉ cần tìm được địa điểm Đức Phật đã trưởng thành – một thành phố cổ đại mà trong văn bản cổ xưa gọi là Thành Ca-tì- la-vệ (Kapilavastu). Rõ ràng là, địa điểm này nằm ở phía Tây Lâm-tì-ni và cách nơi này khoảng 10 – 15 km, và đó là khu vực được tập trung tìm kiếm.

Các cuộc tìm kiếm đã phát hiện được hai địa điểm khả dĩ của Thành Ca-tì- la-vệ (Kapilavastu): một ở Ấn Độ, một ở Nepal. Trong hơn 100 năm, các nhà khảo cổ vẫn không ngừng tranh cãi đâu mới là địa điểm thực. Nghiên cứu mới nhất của tiến sĩ Coningham và các đồng sự cho rằng: địa điểm cổ xưa này (Thành Ca-tì- la-vệ) nằm ở vị trí nay là Tilauracot thuộc Nepal. Đó là một địa điểm cực kỳ tuyệt vời vì còn được bảo tồn khá tốt. Chúng tôi đã thực hiện nhiều cuộc điều tra về vật lý – địa lý, và chúng tôi đã khám phá ra nhiều con đường, rõ ràng là toàn bộ thành phố được tổ chức theo hình lưới với cung điện nằm ở trung tâm – đó chính là nơi bắt đầu về câu chuyện cuộc đời Đức Phật.

2500 năm trước, Bắc Ấn được chia ra thành nhiều vương quốc. Thân phụ của Đức Phật – Tịnh Phạn – được bầu chọn làm thủ lĩnh của bộ tộc Thích Ca (Shakya). Ông cai trị vương quốc của mình từ cung điện nằm dưới dưới chân rặng Hymalayas này!

Hoàng hậu của ông là Ma- da (Maya). Theo truyền thuyết, vào một đêm trăng rằng, bà có một giấc mơ lạ lùng, theo đó, một sinh linh linh đặc biệt, đó là Đức Phật sẽ lại đản sinh trên trái đất. Theo truyền thuyết, bốn vị thần bảo vệ thế giới đã khiêng chiếc giường của Hoàng hậu lên đỉnh Himalayas. Họ xức nước thơm tinh khiết và trang điểm cho bà những đóa hoa từ thiên đường. Một con voi trắng bay từ cõi Trời xuống với vòi gắn một bông sen và bay thẳng vào bụng của bà. Hoàng hậu sẽ sinh ra Đức Phật.

Nếu xem xét câu chuyện này và so sánh với chẳng hạn như chuyện về chúa Giê- su đều thấy xuất hiện các thiên thần. Tôi tạm đưa ra một giả thuyết cơ bản ở đây, rằng có một lực lượng vượt khỏi tầm chúng ta, đưa ra những dấu hiệu báo hiệu điều gì đó vĩ đã sẽ xảy ra.

Theo truyền thuyết, Đức Phật sẽ lựa chọn thời gian và địa điểm để tái sinh. Cậu bé được đặt tên là Tất – đạt – đa (Siddhartha) có nghĩa là “thực hiện được mọi ước mơ”. Nhưng Hoàng hậu Ma-da lâm bệnh và từ trần vài ngày sau khi sinh nở, do đó, Tất – đạt – đa được người dì nuôi dưỡng. Hoàng gia mời các đạo sĩ Bà la môn đến và sau đó một nhà tiên tri đã dự đoán về tương lai của vị hoàng tử trẻ tuổi.

Theo truyền thuyết, Nhà tiên tri thấy trên cơ thể của thái tử xuất hiện những tướng tốt lành của một bậc vĩ nhân, bao gồm cả dấu hình bánh xe trong lòng bàn chân của Ngài.

Theo truyền thuyết, Đức Phật sinh ra đã có 32 tướng tốt của bậc vĩ nhân. Những dấu hiệu này chỉ xuất hiện trên hai loại người: Thứ nhất là Đức Phật, thứ hai là Đại đế thống trị toàn thế giới.

Nghe thế, Đức Vua Tịnh Phạn đã vô cùng sung sướng với ý tưởng con trai mình sẽ trở thành một thủ lĩnh vĩ đại. Do đó, nhà vua vô cùng chiều chuộng con trai, để ngăn ngừa Thái tử nhìn thấy những điều khiến cậu chuyển sang khuynh hướng tôn giáo. Mọi người biết về dấu hiệu này đều biết rằng Tất – đạt – đa rất xuất chúng, đặc biệt là Tịnh Phạn Vương. Nhưng nhà vua quan sát sự trưởng thành của đứa con trai nhỏ tuổi ham hiểu biết và lo lắng về những lời tiên tri. Ông lo ngại, một ngày nào đó, Thái Tử sẽ rời bỏ Hoàng cung và trở thành một nhà lãnh đạo Tôn giáo, chứ không trở thành một thủ lĩnh của bộ tộc Thích Ca.

Khi Tất – đạt – đa trưởng thành, nhà vua cực kỳ mừng vui khi thấy tài năng tuyệt vời của Thái tử trong các môn đánh kiếm, bắn cung và đấu vật. Nhưng đồng thời, Nhà vua cũng thấy Hoàng tử có tư tưởng sâu sắc và cực kỳ ham hiểu biết. Hoàng tử dường như luôn ham muốn tìm hiểu bản chất của thế giới xung quanh chứ không phải con đường binh nghiệp – con đường mà đối với một vị Vua đây là điều tối cần thiết. Hoàng tử Tất – đạt – đa phải học nếu muốn cầm đầu các chiến binh. Tất – đạt – đa được kỳ vọng trở thành vị vua tương lai – người bảo vệ thành Ca-tì- la-vệ (Kapilavastu), một trong những thành phố đầu tiên ở vùng Bắc Ấn.

Cung điện nơi Tất – đạt – đa ở, nay không còn nữa, chất liệu xây dựng là bùn và gỗ đã biến mất hoàn toàn và các nhà khảo cổ không còn gì để nghiên cứu, nhưng họ đã tìm thấy những vật liệu bền vững hơn ở Tilaurakot.

“Chúng tôi cắt một đoạn mương 3mx3m, chúng tôi có được các lớp trầm tích của địa điểm, và sau đó chúng tôi đã kinh ngạc khi phát hiện một vật liệu được biết đến là một mảnh bát vỡ được sơn đen. Mảnh bát này có tầm quan trọng đặc biệt” – Tiến sĩ Coningham cho rằng, nó được làm từ thế kỷ 5 trước công nguyên – là thời điểm Tất – đạt – đa trưởng thành trong cung điện. Cái chúng tôi có là trung tâm của một ngành kinh doanh nhỏ, có thể là một khu định cư, chúng tôi vẫn phân vân không biết có nên gọi đó là một thành phố hay không? Khu vực trung tâm thuộc về Nhà cai trị, và phần lớn cư dân sống trong vùng nội địa – đây chính là vùng nội địa – nó nằm phía bên ngoài tường thành và có sức cuốn hút với Tất – đạt –đa. Do đó, khi chín tuổi, nhà vua cho phép Hoàng tử ra ngoài và tham gia lễ hội cày ruộng thường niên. Hoàng tử đã tham gia rất háo hức. Cảm nhận đầu tiên về thực tại của cậu về thế giới bên ngoài bức tường đã mở ra cho Tất – đạt – đa một cái nhìn mới về thế giới. Và đó chính là một bước ngoặt trong cuộc đời của cậu. Người ta kể lại rằng: Hoàng tử đã xem một người nông dân cày ruộng, Ngài nhìn thấy công việc cực nhọc và nỗ lực cứ lặp đi lặp lại, những thứ mà ngài không nhìn thấy trong cung điện bao giờ. Ngài quyết định thoát khỏi lễ hội và đứng một mình: Ấn tượng đầu tiên về cuộc sống thực sự đã tác động mạnh mẽ lên Hoàng tử. Đối với người khác, đây có thể là một lễ hội, nhưng đối với Tất – đạt – đa nó là biểu tượng của một thứ hoàn toàn khác: Hoàng tử để tâm trí mình rơi vào trạng thái lặng ngắm. Hoàng tử quan sát cái cày khi nó cắt, xới đất và chú ý thấy chim chóc ăn những con côn trùng vừa mới chui từ dưới đất lên. Ngài tự hỏi, tại sao chúng sinh lại phải chịu nhiều khổ đau? Nếu người nông dân không cày ruộng, con chim sẽ không ăn được côn trùng! Hoàng tử thấy rằng, mọi thứ đều có liên hệ với nhau và mọi hành động đều có nhân quả. Quan sát đơn giản này dẫn đến một trụ cột trong giáo lý của Người: Nghiệp (Karma). Khi tâm trí Tất – đạt – đa tập trung vào những tư tưởng sâu sắc, Hoàng tử thả mình vào trạng thái xuất thần hay nhập định – một trạng thái tinh thần mà sẽ trở thành bước đầu tiên của Người trên con đường đi tới Giác Ngộ. Người ngồi dưới bóng cây, và Người tập trung đến cái cày đang cày trên mặt đất. Truyền thuyết nói rằng, khi đó, Hoàng tử tự nhiên tiến vào một cảnh giới Thiền định gọi là Sơ thiền – trạng thái này rất hân hoan và hạnh phúc. Và sau này, Thái tử sẽ sử dụng nó trên con đường tâm linh của mình.

“Mối quan hệ của Thiền trong Phật giáo là tập trung vào một thứ gì đó để tạo ra cảm giác thanh bình, có thể đó là ý tưởng của Từ bi, các con côn trùng bị giết trên luống cày trên mặt đất. Do đó, tôi giả định người ta sẽ nhìn thấy điều này là một phần bản chất của Ngài. Hành vi của vị Hoàng tử trẻ làm đảo lộn mọi dự định của Nhà vua. Theo Bà – la – môn , tôn giáo chính của thời kỳ đó, thì con phải nối nghiệp của cha mình!

Một trong những điều mà tôi nghĩ, quan điểm này lại quá mạnh, hơn cả chúng ta tưởng tượng, đó là quan điểm của nhà vua Tịnh Phạn, rằng ông cố gắng bảo vệ Hoàng tử khỏi bất cứ khổ đau nào. Và bây giờ, nguyên nhân để thực hiện điều này là có một lời tiên tri rằng, Hoàng tử hoặc sẽ trở thành một đại đế, hoặc sẽ trở thành người xuất gia và đạt được sự Giác Ngộ. Dĩ nhiên, Nhà vua muốn Hoàng tử kế tục mình và trở thành một vị Vua! Khi Tất – đạt – đa lớn lên, nhà vua Tịnh Phạn tìm mọi cách để Hoàng tử ở bên trong cung điện. Nhà vua cố gắng tạo ra xung quanh Hoàng tử một môi trường sống thật tuyệt hảo và đầy cám dỗ. Ngoài địa vị Thái tử, Tất – đạt – đa còn có những nàng hầu tuyệt đẹp, mục đích là Để Hoàng tử chìm đắm trong nhạc nhã và sắc đẹp.

Khi Tất – đạt – đa tròn 16 tuổi, vua cha tìm cho Ngài một người vợ xinh đẹp: Công chúa Da – du – đà – la (Yasodhara). Tất – đạt – đa phải tham gia tranh tài để cầu hôn nàng và nhà vua đã rất vui mừng khi người con trai tài giỏi của ông đã là người chiến thắng. Nhà vua bắt đầu tự thuyết phục rằng, cuộc sống trong cung điện cuối cùng cũng đã phù hợp với Hoàng tử – nhưng đó chỉ là mong muốn của Nhà vua mà thôi, và Tất – đạt – đa năn nỉ vua cha cho phép mình đi vi hành. Không thể từ chối mong muốn của con lâu hơn nữa, nhà vua tuyệt vọng ra lệnh “Dọn sạch hết những gì chướng mắt trong khu vực phụ cận hoàng cung!”. Giống như trong một bộ phim Holywood, những người nghèo khổ, ốm đau, già cả được dọn sạch khỏi thế giới lý tưởng của Hoàng tử trẻ tuổi. Mặc cho những nỗ lực của vua cha, nếm trải đầu tiên của Tất – đạt – đa về thế giới bên ngoài sẽ hé lộ ra thực tế khắc nghiệt. Ngây thơ như một đứa trẻ, Ngài ra đi cùng với Xa – nặc (Chana), người đánh xe của Ngài, đồng thời đóng vai trò làm người dẫn đường.

BỐN DẤU HIỆU:

Hoàng tử sẽ thực hiện 4 cuộc du lãm và nhìn thấy 4 dấu hiệu được dự đoán trước của thầy bói Hoàng gia. Các kinh sách của Phật giáo Nguyên thủy đều đề cao mức độ quan trọng của thời điểm lịch sử này, vì mỗi cuộc hành trình sẽ mở ra cho Tất – đạt – đa một khía cạnh cuộc sống đã bị cố tình che giấu trước mắt Ngài.

• LÃO: Trong chuyến du hành đầu tiên, Tất – đạt – đa đi về một vùng nông thôn, xa rời ảnh hưởng của Vua cha. Ngài nhận thấy một cụ già nặng nhọc lê bước trên đường làng. Ngài hỏi xa – nặc về chuyện xảy ra với cụ già, và xa- nặc giải thích cho ngài về quá trình lão hóa của con người . tất – đạt – đa đã được cảnh tỉnh, khi Ngài học được rằng “lão” là không thể tránh khỏi và xảy ra với mọi con người. Đối với Tất – đạt – đa, thực tế đã bắt đầu vén bức tranh khác nghiệt về thế giới – nơi bất hạnh và đau khổ xuất hiện để thống trị mọi khía cạnh của cuộc sống.

• BỆNH: Dấu hiệu thứ hai xuất hiện ngay kế tiếp, khi Tất – đạt – đa nhận thấy một người bệnh cơ thể tàn tạ vì bị bệnh tật hành hạ. Ngài hỏi xa – nặc rằng, liệu có phải ai cũng có thể bị bệnh không? Và Ngài lại bị chấn động lần nữa khi Ngài biết sự thật phũ phàng rằng, tất cả chúng ta đều không thể thoát khỏi “Bệnh”.

• TỬ: Bức tường bảo vệ giả tạo quanh Ngài bắt đầu sụp đổ, càng khám phá cuộc sống, Ngài càng nhận ra những bi kịch của cuộc sống. Giờ đây, Ngài thấy một người chết quấn trong tấm vải liệm được mang đến giàn thiêu. Và, chuyện kể rằng, tất – đạt – đa kinh hoàng khi khám phá ra rằng, con người không những không thoát khỏi “tử”, mà theo tín ngưỡng Bà – la – môn (Brahmin), sau khi chết tất cả chúng ta đều được tái sinh để chịu đau đớn và chết đi hết lần này đến lần khác. Dường như không có kết thúc, và không có giải pháp cho vòng quay vô tận này.

Cuộc đời của Đức Phật là một biểu tượng bởi vì điểm mấu chốt nhất là Ngài là một thanh niên có đời sống vương giả và Ngài nhận ra điều đó không đủ bởi vì Ngài bị chấn động mạnh. Ngài bị chấn động mạnh bởi vì lần đầu tiên trong đời Ngài gặp phải “lão, bệnh và tử”. Có vẻ không hợp lý, khi một thanh niên có trí tuệ sáng láng và được nuôi dạy cẩn thận như Ngài lại không biết gì về điều đó. Điều này có vẻ như là để truyền đạt ấn tượng ghê gớm về việc đối mặt với những vấn đề cơ bản của sự tồn tại của con người, đã và đang chi phối chúng ta và vấn đề cấp bách là chúng ta phải làm điều gì đó.

• TÌM KIẾM CÂU TRẢ LỜI CHO SỰ TỒN TẠI ĐẦY KHỔ ĐAU: Nhưng dấu hiệu thứ tư mới là dấu hiệu chỉ ra tương lai của Tất – đạt – đa: Một người với mỗi một tấm vải quấn quanh thân thể cầm chiếc bát khất thực trước mặt Ngài: “Tại sao ai đó lại muốn từ bỏ những lạc thú trên đời này để đi lang thang khắp đất nước làm nghề khất thực?” – Hoàng tử trẻ tuổi hỏi. Xa – nặc giải thích rằng, người đàn ông đó đã từ bỏ những lạc thú để đối mặt với thực tế và tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn tại đầy đau khổ này.

Vai trò của bốn dấu hiệu này, theo tôi, là một câu chuyện thiết thực của việc thúc đẩy nhận thức về sự tồn tại. Chúng ta đều biết rằng, con người sẽ già đi, sẽ ốm yếu bệnh tật và cuối cùng sẽ phải chết, nhưng hoàn toàn khác biệt khi tĩnh tại ngồi suy nghĩ và nhận ra rằng không phải người khác già ốm yếu và chết mà chính là chính ta sẽ già đi, sẽ ốm đau và sẽ chết. Và tôi cho rằng, ý nghĩa câu chuyện là như thế, cố gắng khắc họa khoảnh khắc của hiện thực đang tồn tại khi lần đầu tiên bạn nhìn thấy nó, rằng bạn sẽ chết , bạn biết điều đó và nếm trải nó.

Khi Tất – đạt – đa trở lại Hoàng cung sau chuyến du hành thứ tư, trí óc Ngài đang quay cuồng với những hiểu biết mới mẻ về thế giới. Hoa trái quanh Ngài sẽ tàn úa và thối rữa. Ngay cả những bức tường quanh Cung điện rồi cũng có ngày sụp đổ. Công chúa da- du – đà la vừa sinh hạ cho Ngài một đứa trẻ xinh đẹp. Nhưng rồi, họ cũng sẽ già đi, ốm đau và chết. Đây là điều không thể tránh khỏi. Ngài đã học được ý nghĩa của sự vô thường và nhìn thấy điều này ở mọi thứ xung quanh. Tất – đạt – đa biết rằng, Ngài phải rời bỏ gia đình để đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đang thiêu đốt tâm can Ngài, dù cho điều đó có nghĩa là bỏ rơi người vợ trẻ và đứa con mới sinh. Trái với truyền thống gia đình và tôn giáo Bà la môn, Tất – đạt – đa bỏ nhà ra đi để kiếm tìm câu trả lời của riêng Ngài về sự đau khổ của cuộc sống.

Một câu chuyện kể lại rằng: Một màn sương mù đã hiện ra để ru ngủ những người lính canh, cho phép Ngài bỏ trốn cùng xa – nặc qua cửa phía Đônng của cung điện. Truyện kể rằng, bên dòng sông Anoma, Ngài đã cởi bỏ đồ trang sức, đổi bộ quần áo xa hoa lấy bộ đồ của kẻ hành khất và cắt đi mái tóc dài. Ngài yêu cầu xa – nặc mang chúng quay trở về cung điện. Tất đạt – đa lần đầu tiên chỉ có một mình. Cuối cùng, Ngài đã trốn khỏi thế giới giả tạo của cuộc sống nơi Hoàng cung, nơi nỗi thống khổ đã bị quét sạch khỏi tầm mắt. Giờ đây, Ngài phải đối mặt với một thực tế, liệu Ngài có thể tìm được giải pháp cho nỗi đau khổ của sự tồn tại? Tất – đạt – đa phải đối mặt với việc chịu đựng nỗi thống khổ ở một mức độ mà Ngài chưa bao giờ thấy, khi Ngài đến các thành phố. Và, trong các thành phố, con người bị ném ra cùng một chỗ khi mà dịch bệnh và đói khổ gia tăng.

Có một số người cho rằng, đây là một sự khởi đầu cụ thể cho sự quan tâm của Đức Phật đến nỗi đau khổ. Nó nhấn mạnh những vấn đề chung mà loài người ở bất kỳ xã hội nào cũng gặp phải!

Tất – đạt – đa nhận ra rằng: Nếu Ngài muốn tìm câu trả lời cho mọi nỗi thống khổ xung quanh Ngài, Ngài sẽ phải đương đầu với tôn giáo Bà la môn mà mọi người đều theo. Những gì người Bà la môn có, đó là tri thức thần thánh. Tri thức thần thần thánh này tập trung trong những kinh sách có tên là Kinh – Vê – đa. Từ “Vê- đa” bản thân nó có nghĩa là “tri thức” và ngụ ý ở đây là: chỉ có tri thức là thứ tài sản thực sự có giá trị! Với tri thức thần thánh của họ, các thầy tu Bà la môn nhìn thấy mọi giai đoạn của cuộc sống từ khi sinh ra đến khi chết! Việc ban phúc của họ là cần thiết, nhưng tri thức của họ chỉ được truyền thụ lại cho những người con trai của họ. Do đó, vị trí của các gia tộc Bà la môn luôn được đảm bảo, cho đến khi một làn sóng các nhà hiền triết mới xuất hiện và thách thức nó. Đó là lúc đạo Brahamism, tiền thân của đạo Hindu được đưa ra tranh cãi. Đây giống như thời của các nhà hiền triết cổ Plato và Socrates ở Hy lạp cổ. Mọi người tranh luận với nhau và Đức Phật cố gắng mở một con đường để đi xuyên qua đó. Đức Phật mô tả hoàn cảnh đó như một mớ hỗn độn của các quan điểm – một rừng quan điểm!

Khi Tất – đạt – đa khám phá “khu rừng quan điểm” này, Ngài nhận ra rằng, giải pháp cho sự đau khổ của cuộc sống phải khả dụng cho tất cả mọi người hơn là cho một thiểu số nào đó, như truyền thống Bà la môn. Đức Phật không đồng tình với những người Bà la môn, và Ngài nói rằng, con người không trở thành người Bà la môn từ khi mới ra đời mà họ trở thành người bà la môn bằng cách sống tốt; Con người không trở thành kẻ bị xã hội ruồng bỏ khi mới ra đời, mà họ trở thành kẻ bị xã hội ruồng bỏ khi sống không tốt. Đó quả là một tư tưởng quan trọng và tuyệt diệu, giống như trong xã hội ngày nay, chúng ta nói rằng, một quý ông đích thực không phải do nguồn gốc được sinh ra trong một gia đình gia thế, mà là người cư xử đứng đắn!

Tất – đạt – đa đi xa hơn trong quá trình tìm kiếm của Ngài về phía Bắc Ấn. Ngài tìm kiếm một lối sống khác để vượt qua nỗi thống khổ xung quanh Ngài. Ngài quan tâm đến cả những tư tưởng triết học mới, nhưng Ngài muốn tiến xa hơn, vươn tới nơi thẳm sâu của tâm hồn. Ngài quyết định tập trung vào kỹ thuật thiền định và đi tìm những bậc Thầy hàng đầu ở thời đó.
Có hai loại thiền định phổ biến ở Ấn Độ cổ, bao gồm:

– Đặt bản thân dưới nhiều loại áp lực khác nhau bằng cách kiểm soát sự hít thở hoặc thỉnh thoảng nhịn ăn.

– Hoặc trải qua các hình thái hành xác khác.

Mục đích là để đạt được cái mà chúng ta gọi là các trạng thái biến đổi của ý thức, vì họ nghĩ rằng, họ đã đạt được những tầng rất cao trong vũ trụ. Họ không đề cập đến vấn đề này theo nghĩa đen, không phải là họ nghĩ rằng họ ở cách 5000 feet so với mặt đất, nói như vậy, có nghĩa họ cho rằng, có những mặt phẳng cụ thể càng trở nên trừu tượng hơn những thứ như là mặt phẳng vô tận của không gian và nó được kế tiếp bởi mặt phẳng ý thức vô tận như ta có và rồi mặt phẳng vô tận của hư vô. Đó là những thứ, mà chắc chắn Đức Phật đã học được từ những người Thầy của Ngài.

Chuyện kể rằng, Tất – đạt – đa cực kỳ xuất sắc trong việc thiền định và Ngài thu hút được 5 môn đồ và các Thầy của Ngài đã đề nghị Ngài ở lại và tiếp quản trường học. Nhưng tất – đạt – đa quyết định rằng, chỉ riêng việc thực hiện thiền định không phải là câu trả lời cho sự đau khổ và tái sinh hay đầu thai.

Do đó, Ngài bắt đầu thử nghiệm các kỹ thuật khác: Lần này tập trung vào cơ thể! Vì vậy, Ngài tập trung vào một phương pháp khác đó là tu khổ hạnh: điều này bao gồm nhịn ăn và không tắm rửa; thiền định khi nín thở một lúc lâu. Đây là một phương pháp tu tập ức chế cao độ. các Thầy tu khổ hạnh có thể nhịn đói hoặc thậm chí chặt đi các bộ phận trên thân thể. Đối với người tu khổ hạnh quan niệm, thì xác thịt là rảo cản để đến với tự do tinh thần. Bằng cách chia cắt sự gắn liền của họ với thân thể, họ sẽ làm trong sạch trí óc và giải phóng tâm hồn?! Tất – đạt đa cố gắng đạt tới trạng thái tự do này. Ngài đã nhịn ăn quá lâu, mạng sống của Ngài giống như chỉ mành treo chuông: “Tay chân ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo đang khô héo. Bàn trôn của ta trở thành như móng chân con lạc đà. Xương sống của ta phô bày giống như một chuỗi banh. Các xương sườn gầy mòn của ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Con ngươi long lanh của ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Da đầu ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín vì bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn”.

Khi Tất – đạt – đa sắp chết đói, thì một cô gái trẻ đã cứu sống Ngài bằng cách cúng dường một bát cơm trộn sữa. Giờ đây, Ngài nhận ra rằng, nếu Ngài tiếp tục nhịn ăn, Ngài sẽ chết đi mà chẳng đạt được thành tựu gì! Và chuyện kể rằng, Ngài đã sống bằng cách ăn mỗi ngày một hạt gạo. Ngài thực hành nhịn đói đến chết và nhận ra rằng: rèn luyện cơ thể bằng sự hy sinh cao độ và bắt cơ thể phải chịu đựng những nỗi đau đớn, cuối cùng cũng không thể giải quyết được vấn đề.

Khi năm môn đồ của Ngài nhìn thấy Tất – đạt – đa từ bỏ nhịn ăn, họ mất niềm tin vào Ngài. Họ không còn tin rằng, Ngài có sức mạnh để vượt qua những chướng ngại tinh thần. Họ bỏ rơi Ngài!

Ngài cảm thấy rằng, mình đã thử những gì được yêu cầu và chúng đã không có tác dụng! Và, tại giai đoạn này, Ngài nhớ tới trạng thái thiền định mà Ngài đã vô tình đạt được tại thời niên thiếu và Ngài nghĩ rằng: có lẽ đó chính là con đường đưa đến sự giác ngộ vì nó không làm tăng dục vọng mà nó vô cùng hân hoan và hạnh phúc!

Một lần, tình cờ Tất đạt – đa đi ngang qua một nhạc sĩ đang chỉnh dây cho cây đàn sitar. Khi dây quá chùng thì đàn không thể chơi được! Khi căng quá thì tiếng đàn phát ra giật cục. Ở đâu đó quãng giữa sẽ là hòa âm du dương. Tất – đạt – đa nhận ra rằng, quan sát đơn giản này báo hiệu điều gì đó cực kỳ quan trọng: Đó là con đường trung dung sẽ dẫn Ngài đến trạng thái của ý thức mà Ngài đang tìm kiếm, tới trạng thái hòa âm du dương- sự giác ngộ! Nhưng làm thế nào để Ngài đạt được điều đó? Và cách thức mà cuối cùng Đức Phật sử dụng là cách có thể gọi là sự quan tâm hay tỉnh thức về cơ thể. Không phải là bỏ qua (cơ thể) hay cố gắng áp chế nó – đó là một cách trung dung!

Con đường trung dung (trung đạo) dẫn Tất – đạt – đa đi qua vùng thôn quê. Ngài đã đi du hành trong suốt sáu năm, Ngài đã trải nghiệm sự đau đớn và nỗi thống khổ và đã mở rộng giới hạn tri thức của mình, nhưng Ngài vẫn chưa tìm thấy sự an bình nội tại và sự hài hòa mà Ngài đang tìm kiếm: Trạng thái của trí tuệ tuyệt đối và hạnh phúc mãi mãi được biết đến với cái tên Giác Ngộ!

Tất – đạt – đa đến Bodh Gaya, ở nơi đây, công cuộc hành xác của Ngài kết thúc! Ngài ngồi dưới một cội cây và lập thệ sẽ không rời khỏi chỗ cho tới khi đạt tới Giác Ngộ! “Cho dù có thịt nát xương tan, ta cũng sẽ không rời khỏi nơi này cho đến khi ta tìm ra con đường đi tới Giác Ngộ. Ngài không còn phải trải qua đau khổ nữa, Ngài không còn phải tự áp chế bản thân đến tột cùng nữa, Ngài không phải chịu đựng bất kỳ đau đớn thể xác nào nữa, Ngài nghĩ rằng, cuộc sống này đã đủ đau khổ lắm rồi, giờ ta hãy suy nghĩ trong tĩnh lặng về vạn vật, nghĩ về cách thức mà cuộc sống đang vận động. Ngài bắt đầu tập trung tâm tưởng bằng cách chú ý đến hơi thở chậm rãi hít vào và thở ra. Cảm giác thanh tịnh trong thân thể, xung quanh chóp mũi và dần dẫn tâm trí đến sự thanh tịnh: TĨNH LẶNG- TẬP TRUNG – THANH SẠCH.

Suy nghĩ của tất – đạt – đa giờ đây tập trung đến mức, Ngài có thể đi vào những vùng sâu thẳm nhất của tiềm thức mình. Giờ đây, Ngài đối mặt với nỗi đau khổ cuối cùng và lớn nhất của mình: Con quỷ Mara – chúa tể của bản ngã (CÁI TÔI) và ảo tưởng đã xuất hiện trước Ngài! MA TÂM có thể tạo ra mọi điều kinh khiếp nhất trong tâm thức của Tất – đạt – đa. Cần phải nhớ rằng, con quỷ Mara này không giống như quỷ Sa – tăng của Thiên chúa giáo, vì nó không phải là một kẻ chuyên đi cám dỗ, mà cũng không giống chút gì với Chúa Trời, quỷ Mara (ma tâm) – nó hoàn toàn chỉ là một động lực tâm lý ẩn trong mỗi chúng ta.

Mara đã thả ra cả một bầy quỷ dữ tấn công Tất – đạt – đa! Chúng phóng những mũi tên cháy bỏng vào Ngài, nhưng mới được nửa tầm, thì Tất – đạt – đa đã biến chúng thành những đóa sen, và những đóa sen này nhẹ nhàng buông xuống quanh Ngài. Thất bại, Mara lại sử dụng những cô gái trẻ quyến rũ của mình nhằm cám dỗ Tất – đạt – đa. Ma vương tấn công tất – đạt – đa là hiện thân của cái chết và dục vọng – giống Như lý thuyết Freud – dục vọng chính là cái chết và cái chết cũng là ham muốn! Thực ra, Ma vương đã đưa ra 3 người con gái của mình, chúng có tên là SAY MÊ; NHỤC DỤC và CĂM THÙ, chúng đều xấu xa như nhau cả! Nếu người ta né tránh chúng và coi chúng là ghê tởm – người ta sẽ trở thành nô lệ của chúng! Tất đạt – đa yhaaus hiểu và Ngài có thể điềm tĩnh và hoàn toàn lãnh đạm, Ngài nhìn chúng mà không hề bị thu hút hoặc ghê tởm. Khuôn mặt các cô gái của Mara dần nhòa đi trước con mắt của Tất – đạt – đa và sau đó, chúng tan vào lòng đất!

Thực tế, ta có thể nói, Đức Phật đã Ngộ ra rằng, MARA là một phần của Ngài ! Toàn bộ quá trình nhận thức này chính là sự GIÁC NGỘ của Ngài!

Trần gian rung chuyển khi Ngài xua đuổi ma quỷ ! Tất – đạt – đa khi giác ngộ điều này là lúc Ngài 35 tuổi, và đã trải qua tứ thiền để đạt tới sự GIÁC NGỘ và trở thành ĐỨC PHẬT hay còn gọi là ĐẤNG GIÁC NGỘ.

Ngài đã thiền định 7 ngày dưới cội cây Bồ Đề trong trạng thái hanh phúc viên mãn đó. Đây là trạng thái mà tâm thức đạt tới độ tinh thuần và nhạy bén đến khó tin. Tâm thức lúc này có thể ví như một mặt hồ hoàn toàn tĩnh lặng, có thể nhìn thấy rõ một con bọ trên mặt nước. Vì thế, điều này được xem là một trạng thái mà tâm trí rất sáng suốt, một dụng cụ rất nhạy bén. Trong trạng thái hợp nhất cao độ này, Đức Phật đã nhìn thấu con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi của “SINH ->LÃO ->BỆNH ->TỬ”. Ngài nhận ra rằng, nếu con người từ bỏ được những dục vọng xấu thì có thể trừ bỏ được BẤT MÃN VÀ KHỔ ĐAU ra khỏi cuộc sống. Nguyên chính của khổ đau và những thất vọng trong cuộc đời chính là NHỮNG HAM MUỐN THÈM KHÁT! Luôn có sự bất cân xứng giữa một bên là những điều bạn mong muốn và bên kia là thực tế diễn ra.

Sự minh triết mà Đức Phật tìm ra dưới cội cây Bồ Đề đã khai sinh nên Phật Giáo – một tôn giáo mà ngày nay có 400 triệu người theo.

Đức Phật đã tổng hợp những hiểu biết của Ngài trong TỨ DIỆU ĐẾ – đó là toàn bộ nền tảng cho đức tin của Đạo Phật.
.
• DIỆU ĐẾ ĐẦU TIÊN: Nhận thức được “đời là bể khổ”.

• DIỆU ĐẾ THỨ HAI: xác định được nguyên nhân nỗi thống khổ “Sự ham muốn!”.

• DIỆU ĐẾ THỨ BA: Tựa như một thầy thuốc, Đức Phật chỉ ra rằng, có một cách để từ bỏ những ham muốn.

• DIỆU ĐẾ THỨ TƯ: Ngài đưa ra cách trừ bỏ căn bệnh này và đạt tới sự Giác Ngộ hay cõi Niết bàn.

Mục đích cuối cùng là đạt tới trạng thái tâm thức hoàn toàn dứt bỏ sự thèm khát, sự ngu dốt, lòng tham, sự thù hận và ảo tưởng – do đó mà giải thoát khỏi tất cả những nghiệp chướng luân hồi. Khi một người GIÁC NGỘ qua đời, họ được coi như đã vượt qua được sự tái sinh để tới một không gian khác, nơi không có thời gian và không còn quay trở lại nữa – VÀ ĐÓ ĐƯỢC COI LÀ TRẠNG THÁI CỦA SỰ GIẢI THOÁT.

Sau đó, Đức Phật giảng về Giới, Định và Tuệ – đây là những nấc thang quan trọng trên con đường tiến đến GIÁC NGỘ. Ngài sử dụng quãng đời còn lại để giúp những người theo con đường ấy – tới sự giải thoát khỏi sự khổ đau.

Do những người theo Ngài ngày càng đông, nên ngài quyết định xây dựng nên một ngôi trường hay còn gọi là tăng đoàn. Ngày nay, một ngôi chùa đã mọc lên ở cạnh cội cây Bồ đề nơi Đức Phật đã đạt tới GIÁC NGỘ. các nhà sư ở đây trở thành thư viện sống về giáo huấn của Đức Phật. Việc tụng kinh dưới chính gốc cây Bồ Đề này được các Phât tử cho là rất có ích cho việc tu tập.

Sư trụ trì ngôi chùa này chịu trách nhiệm duy trì truyền thống của ngôi chùa. Việc quan trọng nhất là thực hành những lời dạy của Ngài: Tu tập chăm chỉ, tỉnh thức hơn nữa. Giờ đây, tôi có thể diễn giải Phật giáo bằng 4 từ “TU TẬP TỈNH THỨC” . CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ BẮT ĐẦU BẰNG VIỆC TẬP TRUNG TÂM TRÍ và làm theo một số lời răn dạy về “giới – định – tuệ”. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, và không nghiện ngập. Đức Phật đã thiết lập nên cách sống này ở tăng đoàn đầu tiên của Ngài. Sau 8 năm, Ngài quay trở về Hoàng cung với gia đình mà Ngài đã từ bỏ. Lúc này, cha Ngài đã tha thứ cho những nỗi đau mà Ngài đã gây ra. Giờ đây, vua Tịnh Phạn đã nhận ra tầm quan trọng của những điều mà con trai ông tìm kiếm. Thậm chí, kế mẫu của Đức Phật cũng xin phép được gia nhập tăng đoàn của Ngài và bà trở thành nữ tu sĩ đầu tiên trong lịch sử Phật giáo.

Đức Phật đã được ủng hộ trong con mắt của tất cả các tín đồ Phật Giáo, thậm chí cả về việc Ngài từ bỏ vợ con để dấn thân vào hành trình đơn độc để cố gắng tìm ra giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống và cách thức nên sống ra sao? Và với Ngài, Nên sống thế nào là một câu hỏi thực sự quan trọng hơn nhiều so với có bất kỳ của cải nào hay thậm chí là người bạn đời.

Đức Phật, một lần nữa từ bỏ gia đình. Ngài đi giảng đạo trong vòng 40 năm, truyền cho các đệ tử của Ngài trí tuệ mà Ngài đã đạt được dưới gốc Bồ Đề. Nhưng trước khi ra đi, Ngài đã nhận con trai mình vào tăng đoàn làm một tu sĩ. Đức Phật đã khuyến khích các đệ tử của mình sống cùng nhau trong một tăng xá – nhằm giúp họ tập trung vào con đường giác ngộ!

Có người trở thành tu sĩ hoàn toàn chỉ để thiền định: tu tập thiền định hay tu hành ẩn cư.

Có người trở thành tu sĩ để truyền bá đạo Phật.

Các tu sĩ đến từ nhiều nơi, cùng sống trong các tăng xá được xây dựng quanh ngôi chùa dưới gốc Bồ đề. Những người không phải là tu sĩ, những đệ tử tục gia cũng đến đây học hỏi. Các Nhà sư phải sống độc thân và phải từ bỏ mọi ham muốn cá nhân, và đó là một phần tu tập để trừ bỏ khuynh hướng cá nhân, những khuynh hướng chỉ nghĩ đến bản thân, mục đích là hoàn toàn đặt mình vào cuộc sống của tăng đoàn. Sau khi chấp nhận mọi từ bỏ này, việc tu tập mới thực sự bắt đầu: ghi nhớ những bài tụng dài hay những câu mật chú. Những câu mật chú này có mục đích để kiểm tra ký ức của các tăng sĩ, sự tập trung và khả năng lĩnh hội những giáo lý Đức Phật.

Trải qua hàng thế kỷ, những lời rao giảng của Ngài đã mở rộng thành các dòng phái tu tập khác nhau với những kiến giải và cách tu tập riêng của từng dòng. Nhưng Đức phật đã dạy rằng, những người bình thường cũng có thể đi theo con đường đạt tới hạnh phúc bất diệt và trí tuệ tối thượng!

Phần lớn người phương Tây không thích Đạo Phật vì nó tách rời khỏi cuộc sống đời thường, họ chỉ quan tâm đến tu tập thiền định như một cách thức giúp nâng cao hiệu quả cuộc sống và đó cũng là một trường hợp mà những lời dạy của Đức Phật có ý nghĩa ở một dạng khác: Nó trở thành một phương pháp phát triển bản thân, một cách giải quyết những áp lực trong cuộc sống; một cách giúp làm rõ ra những mục tiêu và đối tượng mà ta cần đạt tới!

Thiền trong Phật giáo đặc biệt hấp dẫn nhiều người Phương tây. Tôi cho rằng, tất cả chúng ta đôi lúc cũng thoáng nhận ra phép mầu và sự thần bí trong khoảnh khắc – và Thiền định giúp chúng ta cảm nhận điều này thường xuyên hơn. Thiền định giúp ta thêm điềm tĩnh và tự chủ được tâm trí của mình. Chúng ta có thể tạo nên điều kiện cho phép chúng ta tiến tới nhận thức về sự tương thuộc về vô thường và cõi niết bàn.

Ngày nay, một số trường phái Phật Giáo tin rằng, Đức Phật là một siêu nhân, một người thần kỳ như các vị thần có thể thực hiện phép thuật!

Những người khác lại cho rằng, Ngài cũng là một con người bình thường và họ tin rằng, điều này càng làm cho những thông điệp của Đức phật có giá trị.

Nhưng chắc chắn, Đức Phật đã mong muốn người đời nhớ đến Ngài như một con người, cũng có những nhược điểm, nhưng không phải là về mặt trí tuệ hay đạo đức mà là nhược điểm về mặt thể chất. Về cuối đời, Đức Phật bị chứng đau lưng, Ngài cũng nếm trải bệnh tật và đau yếu.

Đức Phật viên tịch ở tuổi 80 vì một lý do đơn giản: Ngộ độc thức ăn! Người ta nói rằng, trước khi mất, Ngài đã nhập định để đi vào Niết Bàn – chốn hạnh phúc vĩnh hằng, thoát khỏi kiếp luân hồi, thoát khỏi khổ đau và cái chết.

Một hội đồng được lập nên để ghi lại những lời giáo huấn của Đức Phật cho hậu thế. Các thế hệ tăng lữ đã học thuộc những lời này và truyền lại cho những đời sau qua hàng thế kỷ. Thi hài của Đức phật được hỏa táng và xá lị của Ngài được bảo quản. Hai trăm năm sau, vị Hoàng đế đầu tiên của Ấn Độ Ashoka cũng là một tín đồ Đạo Phật đã trân trọng gìn giữ di cốt này. Hoàng đế đã xây dựng nhiều đài tưởng niệm và các ngọn tháp huy hoàng và dựng nên những cột trụ để đánh dấu những nơi chính yếu trong cuộc đời Đức Phật. Ashoka sau đó đã trở thành một hình ảnh tiêu biểu của sự truyền bá Đạo Phật và sau này còn được coi là một biểu tượng đối với những người đứng đầu Phật Giáo ở khắp châu Á, họ xem Ashoka như một vị vua lý tưởng và là người bảo trợ Đạo Phật.
Hơn thế nữa, chúng ta còn biết đến Hoàng đế Ashoka với tư cách là người đã cai trị vùng đất rộng hơn 2/3 Ấn độ ngày nay vào giữa thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Hoàng đế đã giúp các tăng sĩ đưa các đoàn truyền giáo đi ra các quốc gia bên ngoài. Các nhà truyền giáo đã tới Kashmir ở nepal và Sri Lanka. Họ đã cải đạo cho Hoàng đế ở những nơi họ đến và sau đó nhờ sự bảo trợ của Ngài đối với Đạo Phật để đưa Sri Lanka trở thành một quốc gia Phật giáo từ đó tới nay. Và đây là cách thức mà Phật Giáo lan truyền từ quốc gia này sang quốc gai khác qua nhiều thế kỷ.

Các cây cột do Hoàng đế Ashoka đánh dấu sự tồn tại của Phật giáo ở Ấn Độ – chúng vẫn tồn tại sau những cuộc xâm lăng của Đạo Hồi và tiếp tục thu hút sự quan tâm của các nhà khảo cổ thực dân đầu tiên. Những cột ghi dấu này – chúng góp phần thúc đẩy quan trọng cho sự phục hưng của Phật Giáo. Niềm khát khao trở lại những vùng đất mang dấu ấn của Đức Phật, không phải chỉ để truyền bá cho người Phương tây về Phật Giáo, mà những khám phá này còn là nền tảng cho sự chấn hưng Đạo Phật ở châu Á !

Ngày nay, những nơi chốn có liên quan đến cuộc đời Đức Phật rất cuốn hút du khách, và đám đông những người hành hương đến Bồ Đề Đạo tràng để theo bước chân Đức Phật, với hy vọng theo gương Ngài sẽ tìm thấy sự bình an và niềm hạnh phúc vĩnh cửu cũng như giải thoát khỏi nỗi đau và cái chết.

Trớ trêu thay, sau cái chết của Đức Phật, Người đã rao giảng về sự vô ích của những nghi lễ thờ cúng và sự vô nghĩa của sự sùng bái cá nhân lại trở thành đối tượng được thờ cúng và là người được sùng bái nhiều nhất trong lịch sử nhân loại.

Các ngôi chùa được xây dựng ở Bồ Đề Đạo tràng đại diện cho những dòng phái khác nhau trên thế giới. Đạo Phật ở tất cả các dòng đã trở về cội nguồn dưới gốc cây Bồ Đề – nơi mà một Hoàng tử đã đạt tới sự GIÁC NGỘ và trở thành ĐỨC PHẬT.

Đức Phật đã đạt tới sự giác ngộ trong một khoảnh khắc như cái chớp mắt, cái khoảnh khắc ấy là thời điểm để ngộ ra và không thể giải thích được ! Đó là khoảnh khắc đặc biệt đã cho ra đời tôn giáo đầu tiên của thế giới – Một tôn giáo không có Chúa – nơi mà đường tới Niết Bàn nằm ngay ở trong tâm trí của mỗi chúng ta.

…………………

(*): Bộ Phim do hãng BBC / Discovery Channel co – Production).

Nguồn: fb Phạm Đức Bảo

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: