• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Trò chuyện với nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh xung quanh cuốn sách thú vị “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75”

Nhà báo Trần Mai Hạnh bộc bạch về “Biên bản chiến tranh”

LTS: Sau 39 năm ấp ủ, cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của nhà báo, nhà vănTrần Mai Hạnh đã tạo tiếng vang lớn, về cả giá trị văn học và lịch sử. Với khối tư liệu đồ sộ quý hiếm, cuốn sách trải ra trước mắt độc giả những thời khắc cuối cùng của chế độ Việt Nam cộng hoà một cách chi tiết, sống động.

Cuốn sách đã giành được “Giải thưởng Văn học năm 2014” của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2015, và mới đây, Phiên bản tiếng Anh của tác phẩm đã ra mắt bạn đọc trong và ngoài nước. Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện với nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh xung quanh cuốn sách thú vị này.

Cơ duyên nào đã khiến ông viết được cuốn sách này?

Ông Trần Mai Hạnh: Có thể nói, cuốn sách này là một món quà mà số phận dành cho tôi, hoặc đã lựa chọn tôi mà tìm tới. Bắt đầu được thai nghén từ chính thời khắc lịch sử, chuân chuyên đúng 39 năm, cuốn sách mới được ra đời.

30-4-1975, ngày 30 tháng 4, đất nước thống nhất
Ảnh do nhân vật cung cấp

Tôi may mắn có mặt, chứng kiến những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập. Khi đó tôi là phóng viên của Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX). Sau khi viết bài tường thuật điện về căn cứ Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) đóng trên rừng Tây Ninh và Tổng xã VNTTX ở Hà Nội, tối 30-4-1975, trên chiếc com-măng-ca cắm cờ giải phóng tôi đi khắp Sài Gòn, say sưa ngắm nhìn “Hòn ngọc Viễn Đông” lộng lẫy trong đêm đầu tiên trở về trong lòng dân tộc.

Khi về tới trụ sở Việt tấn xã (hãng thông tấn của chính quyền Sài Gòn) thì đêm đã khuya. Tôi ngủ thiếp đi. Khi choàng tỉnh, giây phút đầu tiên tôi choáng váng trước anh điện sáng trưng và không hiểu điều gì đã xảy ra. Thế rồi tôi định thần lại và chợt hiểu: Thống nhất rồi, bài tường thuật tôi viết cũng đã điện được về Tổng xã rồi.

Tôi bước ra sân, Dinh Độc Lập ngay trước mặt, cả bốn tầng lầu rực sáng ánh điện. Những quả pháo hiệu liên tục được bắn lên bầu trời như pháo hoa mừng chiến thắng khiến khung cảnh càng trở nên rực rỡ, lung linh.

Thành phố đã bước sang ngưỡng cửa ngày 1-5. Những sự kiện lịch sử trưa 30-4 vừa diễn ra tại Dinh Độc Lập phút chốc đã trở thành quá khứ, và sẽ ngày một lùi xa trong lớp bụi thời gian. Những sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần, cũng như đời mỗi con người chỉ sống có một lần. Tự dưng tôi bật ra ý tưởng phục dựng lại những giờ phút đó, phục dựng lại trung thực sự thật đã diễn ra trong những ngày tháng sụp đổ cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Nguyễn Văn Thiệu) bằng những tài liệu nguyên bản tuyệt mật, những bức điện chỉ huy tác chiến, những bản văn tin cậy của chính phía bên kia (phía Việt Nam Cộng hòa và phía Hoa Kỳ). Đó là căn nguyên khởi đầu của cuốn sách này.

Khi đó tôi còn trẻ, mới 32 tuổi và trong men say chiến thắng mới liều lĩnh quyết định một việc tày trời như vậy. Vì truy tìm tập hợp tài liệu tuyệt mật về cuộc chiến những tháng ngày cuối cùng của phía bên kia (phía Việt Nam Cộng hòa và phía Hoa Kỳ) rồi hóa thân phục dựng lại trung thực sự sụp đổ của cả một chế độ, cả một thể chế dường như là điều không tưởng.

Thực ra tôi đã đặt ra cho mình một con đường không biết bao giờ mới tới đích. Nhưng tôi rất thích câu nói của sếp tôi hồi đó, ông Đào Tùng, Tổng biên tập VNTTX: “Đời chỉ mở cửa cho thằng liều”. Chính ông Đào Tùng là người đầu tiên ủng hộ, khuyến khích tôi thực hiện cuốn sách này.

30-4-1975, ngày 30 tháng 4, đất nước thống nhất
Ông Trần Mai Hạnh cùng đồng nghiệp trên đường vào Sài Gòn (thứ nhất từ bên phải). Ảnh do nhân vật cung cấp

Làm thế nào ông thu thập được một khối lượng tài liệu đồ sộ với nhiều tài liệu nguyên bản tuyệt mật quý giá đó?

Như đã nói, ngay từ những ngày đầu Sài Gòn giải phóng tôi đã lập tức bắt tay ngay vào việc truy tìm, tập hợp tài liệu, tư liệu. Tôi được cử đi trong đoàn công tác đặc biệt của VNTTX do đích thân Tổng biên tập Đào Tùng dẫn đầu.

Những ngày đầu tiên khi đất nước thống nhất, TBT Đào Tùng vừa là cố vấn cho Ban lãnh đạo TTXGP, đồng thời là Trợ lý cao cấp cho Lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương cục miền Nam và trực tiếp chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ của Phân xã VNTTX tại Sài Gòn. Tôi may mắn được tháp tùng ông trong hàng loạt các cuộc hội họp tiếp xúc với đủ các ngành, giới, với Ủy ban Quân quản, với các cơ quan trong và ngoài quân đội.

Với Giấy công tác đặc biệt của Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn-Gia Định cấp cho tôi ngay trong ngày 1-5-1975 , với thẻ nhà báo là phóng viên của VNTTX, và đặc biệt với tờ báo Nhân Dân số ra ngày 2-5-1975 có đăng bài tường thuật “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy” ghi rõ tên tôi là tác giả, tôi dễ dàng tiếp xúc, tạo được niềm tin với các cơ quan có thẩm quyền trong và ngoài quân đội trong việc tiếp cận, khai thác những tài liệu quý giá phục vụ việc xây dựng cuốn sách của mình

Và nhiều cơ duyên kỳ lạ khác, cứ như sự sắp xếp của cuộc sống, của số phận.
.

Vợ tôi là giáo viên dạy văn của một trường cấp 3 tại Hà Nội, trong lớp có một học sinh thông minh nhưng nghịch ngơm tới mức cá biệt. Bố cậu ta có lần phải đến nhà cô giao để trao đổi về chuyện học tập của con mình. Ông là một sỹ quan cao cấp trong quân đội, là người trực tiếp hỏi cung các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn bị ta bắt tại trận hoặc không di tản, sau giải phóng ra trình diện cách mạng và đi học tập tập trung trong các trại cải tạo. Ông cũng viết văn và có mấy đầu sách đã xuất bản.

Ông với tôi nhanh chóng gặp nhau và dự định cùng viết chung một tác phẩm, lấy tên là “Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn ngày cuối chiến tranh”. Đang trong giai đoạn lên đề cương và tập hợp tư liệu thì một tai họa nghề nghiệp ập đến, tôi không may vướng vòng lao lý, mọi việc đành gác lại.

Rồi một ngày khi tôi trở về, ông đến gặp tôi. Tôi bất ngờ trước dáng vẻ gầy ốm tiều tuỵ của ông. Ông nói với tôi: “Tôi từng muốn cùng anh xây dựng chung một cuốn sách. Nhưng không may bệnh tôi quá hiểm nghèo, không còn sống được bao lâu nữa. Tôi xin tặng lại toàn bộ lời khai, những bản tường trình của tướng lĩnh quân đội Sài Gòn mà tôi có được. Tôi đã nghĩ rất nhiều. Tặng lại anh những tài liệu này thì nó có cơ hội đến được với bạn đọc và có ích cho mai sau!” Từ rất nhiều nguồn, nhiều cơ duyên và cơ hội tôi đã có được bộ hồ sơ tư liệu đồ sộ, quý giá đến thế!

Trong đó có bản tường trình dài cả trăm trang của Đại tá Phạm Bá Hoa, Tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận ghi lại diễn biến chi tiết những ngày cuối cùng ở Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Ở trong trại cải tạo, không một tài liệu nào trong tay, bằng trí nhớ đáng kinh ngạc, đại tá Phạm Bá Hoa đã ghi lại đầy đủ các số liệu và diễn biến các tình huống, sự việc tại trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn những ngày cuối cùng. Tường trình của đại tá Phạm Bá Hoa đã giúp tôi xây dựng thành công chương cuối cùng “Phút tắt thở của Bộ Tổng tham mưu quân dội Sài Gòn và chính thể Việt Nam Cộng hòa”.

Trước đó, năm 1981, khi gia đình tôi còn sống ở tập thể TTXVN. Một trận hoả hoạn kinh hoàng xảy ra do hàng xóm dùng xăng bất cẩn. Căn hộ cấp 4 của tôi cháy sạch. Tài liệu tôi thu thập được sau bao năm tháng bỗng ra tro. Tôi cay đắng, ứa nước mắt, và rồi lại cặm cụi thu thập lại tài liệu từ đầu!

30-4-1975, ngày 30 tháng 4, đất nước thống nhất
Ông Trần Mai Hạnh đứng trước Dinh Độc lập sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Khi đặt bút viết cuốn sách, ông đặt mình ở vị trí nào: một nhà nghiên cứu, một nhà báo, một người quan sát, hay nhân chứng lịch sử?

Tôi chẳng xác định gì cả, chỉ đơn giản nghĩ mình là một phóng viên, mình may mắn được sống, được chứng kiến những sự kiện lịch sử, mình phải có trách nhiệm với lịch sử. Mình có cơ may và cơ duyên được tiếp xúc và sở hữu những tài liệu quý giá của lịch sử thì mình cần phải viết ra. Thế thôi!

Nhưng “Đời chỉ mở cửa cho thằng liều”. Vậy cánh cửa mở ra như thế nào khiến ông quyết định phục dựng lại lịch sử bằng chính tài liệu của “phía bên kia”, nhìn từ phía bên kia?

Nếu viết từ phía chúng ta, những người chiến thắng thì đã có rất nhiều người viết và đã có rất nhiều tài liệu văn bản đầy đủ, chính xác, rành mạch. Nhưng từ phía bên kia, cả một thể chế vừa sụp đổ. Những quyết sách nào, những bức điện nào, nhưng văn bản, những mệnh lệnh chỉ huy cuộc chiếnnào của phía bên kia.

Không tập hợp ngay thì tài liệu sẽ thất tán, đến lúc có muốn cũng không tập hợp được nữa. Tướng lĩnh quân đội Sài Gòn, người thì chết trận, người bị bắt, người ra trình diện, người chạy ra nước ngoài… Nếu tôi phục dựng thành công những giờ phút sụp đổ cuối cùng của phía bên kia, bằng chính những tài liệu gốc, tuyệt mật của họ sẽ giúp người đọc  hình dung được trong khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh những người phía bên kia đã trải qua điều gì, suy nghĩ hành động như thế nào, tiến hành cuộc chiến thế nào để dẫn đến sụp đổ hoàn toàn.

Và điều quan trọng nhất làm nên giá trị cuốn sách, là từ góc độ đã chọn nhìn từ phía bên kia, giúp tôi có cơ hội và điều kiện để đi đến tận cùng sự thật. Sự thật là cốt lõi của lịch sử. Sự thật là món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho con người. Chính sự thật sẽ làm nên tính khách quan, thuyết phục và tính nhân văn của tác phẩm…

Tai hoạ cuộc đời đã cứu sống Biên bản chiến tranh

Nhưng làm sao tránh được sự thiên kiến về góc nhìn và quan điểm chính trị, nhất là khi ông đang cầm bút và cầm súng cho “phía bên này”?

Tôi suy nghĩ rất rõ ràng: Nếu không tôn trọng sự thật, đem quan điểm chính trị chủ quan của mình áp đặt vào các sự kiện, sự việc và tình tiết, trình bày nó theo mong muốn chủ quan của mình, thì cuốn sách sẽ hỏng hoàn toàn. Lịch sử là tự nó viết ra – đó chính là sự thật. Lịch sử không phải do bên thắng trận muốn nói thế nào cũng được, và bên thua trận muốn giải thích thế nào cũng xong. Không phải thế! Sự thật cuối cùng cũng trở về với sự thật.

Mặc dầu là một tác phẩm văn học, thể loại tôi lựa chọn là tiểu thuyết tư liệu lịch sử, nhưng trong suốt 19 chương với gần 600 trang sách, tôi tuyệt đối không chen bất cứ nhận xét, bình luận cá nhân nào, hoàn toàn không có sự hiện diện của tác giả.

Toàn bộ nội dung và những bản văn, tư liệu được viện dẫn trong sự dung tưởng của tác giả phục dựng từng sự kiện trong từng trang sách, tự nó nói lên tất cả.

Trần Mai Hạnh, 30 Tháng Tư, Đất nước thống nhất
Ảnh tư liệu do nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp.

Để có được những tài liệu quý giá đó, ngoài may mắn được chứng kiến, được tắm mình trong các sự kiện với những trang ghi chép tại trận suốt dọc đường chiến dịch cho tới giờ phút toàn thắng, tôi phải có được những cơ duyên vô cùng kỳ lạ và sự hỗ trợ của rất nhiều người. Sự sắp đặt của cuộc sống nhiều lúc lạ lùng đến mức tôi không hiểu nổi, không cắt nghĩa nổi.

Năm 2000 cuốn sách cơ bản viết xong, tôi đã thay đổi tên sách 5 lần, với tựa sách lúc đó là: “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa”, và đã đăng một vài chương trên Báo Văn Nghệ, với cách nhìn và kiểu diễn đạt “bên nguỵ bên ta”, “ta thắng địch thua” bên ta thì gọi tên, viết hoa, xưng hô trang trọng, bên kia thì hạ thấp, miệt thị, coi thường… Nếu cuốn sách ra đời thời điểm đó, theo cách đó, nó đã chết và bị thời gian đào thải lâu rồi…

Đúng là tai hoạ nghề nghiệp rồi vướng vòng lao lý đã mang tới cho tôi bao ngang trái, bao hệ lụy kinh hoàng. Nhưng cũng chính tai họa đã cứu cuốn sách này. Lúc vụ việc xảy ra, cuốn sách của tôi chỉ còn một chương cuối cùng là hoàn thiện.

Tại toà tôi có nói: “Tôi không có tội. Tôi bị oan. Thời gian sẽ chứng minh. Nhưng nếu tòa cứ tuyên án, thì tôi xin lui 15 ngày để hoàn thành nốt cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử quan trọng với những tài liệu vô giá mà tôi đã trình bày trước tòa, rồi sau đó sẽ thụ án”.

Nhưng tòa không chịu và nói tôi mang tài liệu vào trong trại mà viết. Từ đỉnh vinh quang bỗng rơi vào tình cảnh bi thảm đó, tôi mới thực sự thấm thía và có điều kiện suy ngẫm sự đời, nhìn nhận cuộc sống một cách điềm tĩnh và thấu đáo.

Tôi đã ngộ ra rất nhiều điều, nhìn nhận sự việc khách quan hơn, nhân văn hơn với cảnh ngộ, số phận của những người ở phía bên kia. Tôi hiểu rằng, dù dữ dội và đau đớn đến đâu, cuộc chiến tranh nào rồi cũng qua đi. Những năm tháng khổ đau, máu và nước mắt của bất cứ bên tham chiến nào cũng không bao giờ bị lãng quên và tất yếu trở thành một phần của lịch sử.

Cuốn sách còn dang dở luôn ám ảnh tâm trí tôi. Nhiều đêm thức giấc, tôi bừng tỉnh nhớ lại dọc đường chiến dịch, từ Huế đến Tây Nguyên, Sài Gòn tôi đã chứng kiến bao câu chuyện đau thương của con người. Những xác chết chưa phân huỷ hết dọc đường chiến dịch. Có bà mẹ ôm xác con, chạy bộ di tản theo quân đoàn 2 suốt từ Pleiku về Tuy Hòa, suốt ba ngày cứ ôm xác con chạy bộ đến kiệt sức vì không tìm được chỗ chôn con. Hàng nghìn bà con vì luận điệu tuyên truyền của chính quyền Sài Gòn là ở lại sẽ bị “Việt cộng tắm máu”, mà bồng bế nhau chạy theo binh lính quân đoàn 2.

Cũng là đồng bào mình chứ ai? Mình có nên viết về những điều đó bằng sự lạnh lùng, hả hê của người thắng trận không hay viết bằng sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người trong chiến tranh?

Sau khi trở lại với cuộc sống và công việc thường ngày, có lúc tôi bỗng thấy mình có phần may mắn. Tai họa mang tới cho tôi biết bao ngang trái, đớn đau, bất hạnh nhưng đã giúp tôi “ngộ” ra nhiều điều, giúp tôi có một cái nhìn điềm tĩnh, thấu đáo hơn, và nó đã cứu sống cuốn sách này.

Dù sau biến cố đó nhiều năm, tôi vẫn chưa viết được thêm dòng nào, thậm chí đã có lúc bất lực, không sao có hứng thú tiếp tục, có lúc tôi muốn đốt hết những tài liệu đó đi. Và rồi tôi chợt bừng thức, rỡ cuốn sách ra viết lại hoàn toàn, dưới ánh sáng của tình hình mới, với tinh thần quả cảm trước sự thật lịch sử, với cái nhìn khách quan, không thiên kiến, nhân văn trước số phận những người thuộc phía bên kia, đảm bảo sự trung thực của ngòi bút trước các sự kiện, sự việc, tình tiết đã diễn xa. Và cuốn sách đã mang một diện mạo hoàn toàn khác.

Trong suốt quá trình đó, điều gì làm ông ngạc nhiên hoặc khác với những gì ông vẫn hình dung trước đó?

Trong cuốn sách có 21 tài liệu nguyên bản tuyệt mật được in toàn văn trong phần phụ lục. Đó là những tài liệu ta thu được trên bàn làm việc và nơi ở của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập và trên bàn làm việc của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam cộng hoà tại trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn vào buổi trưa và chiều tối ngày 30-4-1975. Những tài liệu này làm tôi vỡ ra rất nhiều điều.

Ví dụ trên bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên có đầy đủ các tập kiểm điểm, tường trình của tướng tá quân đội Sài Gòn thuộc các quân binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn tại các mặt trận, các tuyến phòng thủ sau khi thất trận chạy về Sài Gòn.

Sau khi mất Tây Nguyên, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Thiệu đã lập một Ủy ban điều tra nguyên nhân thảm bại, bắt tất cả tướng lĩnh thất trận chạy về Sài Gòn phải viết tường trình và “dọa” đưa tất cả ra tòa án binh… Đọc những bản tường trình ấy, tôi vỡ ra nhiều điều. Nếu quân đội Sài Gòn không có quân phong quân kỷ, hỗn quân hỗn quan, chạy bán sống bán chết như không ít tác phẩm, bài viết mô tả, thì làm sao trong những ngày sụp đổ cuối cùng còn bắt viết tường trình được, và làm sao tướng lĩnh quân đội Sài Gòn có thể ngồi viết những bản tường trình đầy đủ và chi tiết như vậy được.

Nếu không có những bản tường trình đó, thì cũng khó mà có cuốn sách này.

Trần Mai Hạnh, 30 Tháng Tư, Đất nước thống nhất
Nhà báo Trần Mai Hạnh trên đường tiến vào Sài Gòn. Ảnh tư liệu do Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp
Cuốn sách được thể hiện dưới dạng tiểu thuyết, hẳn có phần hư cấu. Ông cân bằng thế nào?
.

Đã gọi là tiểu thuyết tư liệu lịch sử, tôi mong muốn tác phẩm của mình có giá trị văn chương, nhưng trước hết phải có giá trị vững chắc vê sự thật lịch sử.

Một ví dụ đơn giản thế này. Tác phẩm có tất cả 270 nhân vật, đều là người thật, việc thật. Chỉ cần sai một cái tên, thậm chí sai họ, sai tên lót thôi là có thể đổ vỡ tất cả.

Ví dụ tướng Nguyên Cao Kỳ, tác giả lại viết là tướng Nguyễn Quang Kỳ là “vất đi” tất cả. Không ai tin nữa, thậm chí bị phản ứng dữ dội từ người đọc…. Sau khi sở hữu khối lượng tài liệu đồ sộ, với sự dung tưởng phong phú của một nhà văn tôi đã hóa thân sang phía bên kia để phục dựng lại từng sự việc, từ diễn biến trên chiến trường, đến các cuộc họp cơ mật của hội đồng an ninh quốc gia…, ngày giờ diễn ra sự kiện, sự việc, các tranh luận, quyết sách, mệnh lệnh đều phải có các căn cứ, viện dẫn để người đọc thực sự tin cậy đó là sự thật…

Ví dụ, trong chương “Nước cờ định mệnh”, tôi dựng lại chi tiết cuộc họp tuyệt mật tại căn cứ Cam Ranh do Thiệu chủ trì đi đến quyết định rút bỏ Tây Nguyên.Dự cuộc họp chỉ có 6 người: Thiệu, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh cao cấp của Thiệu, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân đoàn 2, Đại tá Lê Hữu Đức, Quyền Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh.

Tại cuộc họp đó, trước sức ép nặng nề của Quân giải phóng, trước nguy cơ quân đoàn 2 bị tiêu diệt, Thiệu đã buộc phải đưa ra một quyết định mang tính “định mệnh” – rút khỏi Tây Nguyên.

Cuộc họp được phục dựng lại chi tiết trong từng cử chỉ, thái độ, lời lẽ và lập luận của các thành viên dự họp. Đương nhiên, để phục dựng một cuộc họp quan trọng và sống động như vậy, không thể không có sự sáng tạo, tưởng tượng của nhà văn. Nhưng tất cả sự tưởng tượng đó đều trên cơ sở căn cứ của những tài liệu nguyên bản, căn cứ lời tường trình của các nhân chứng, các bản văn tin cậy đã được kiểm chứng từ nhiều nguồn.

Cùng một sự việc, được nhiều tướng lĩnh đề cập đến ở những góc độ khác nhau: từ bản tường trình nộp cho Nguyễn Văn Thiệu, biên bản lời khai sau khi bị Quân giải phóng bắt hoặc không di tản, ra trình diện chính quyền cách mạng, những người chạy ra nước ngoài bị triệu tập, viết tường trình kể lại chi tiết diễn biến sự việc tại Trung tâm Lịch sử quân sự lục quân Hoa Kỳ và trả lời báo chí quốc tế, hồi ký của nhân chứng… đã giúp rất nhiều cho việc thu thập, đối chiếu, kiểm chứng để phục dựng trung thực các sự kiên, sự việc, tình huống, thậm chí cả tình tiết đã diễn ra trong những ngày sụp đổ cuối cùng của chính thể Việt Nam Cộng hòa…

Ông đặc biệt ấn tượng với nhân vật nào nhất?

Nhân vật chính trong toàn bộ tác phẩm là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi thậm chí có cả số thẻ căn cước và ngày cấp thẻ căn cước của cả Thiệu và vợ Thiệu. Thiệu đi lính, tiến lên từ quân đội đến khi vào Dinh Độc Lập làm Tổng thống.

Từ Dinh Độc Lập, Thiệu gọi điện cho tất cả các quân sư đoàn, trực tiếp chỉ huy toàn bộ cuộc chiến. Một con người cực kỳ thông minh, quyết đoán, lật lọng, mưu toan, thủ đoạn tàn bạo, bám Mỹ đến cùng và chống cộng sản đến cùng.

Ngoài ra, trong các tướng lĩnh Việt Nam cộng hoà, người khiến tôi ấn tượng nhất về mặt nhân cách là Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh quân đoàn Quân khu 4.

Khi đọc hồ sơ về ông ta, nhiều lần tôi lặng người. Khi chủ trì cuộc họp Bộ tư lệnh quân đoàn 4, đúng lúc Dương Văn Minh tuyên bố buông súng đầu hàng, cuộc họp biến thành cuộc tranh cãi gay gắt. Tướng Nam yêu cầu mang chiếc radio ra để giữa bàn và nói: “Tổng thống đã tuyên bố đầu hàng. Tôi cũng tuyên bố Quân đoàn 4 bỏ súng”.

Các tướng lĩnh khác lập tức chất vấn Nguyễn Khoa Nam: Tại sao đầu hàng, trong khi Quân đoàn 4 còn nguyên vẹn hải lục không quân, chưa một trận chạm súng với Quân giải phóng. Tranh cãi gay gắt, loạn xạ. Nguyễn Khoa Nam đã buồn rầu, nhưng vẫn cương quyết ra lệnh: “Tình thế đến lúc này không đảo ngược được. Tôi còn có trách nhiệm với 165.000 gia đình binh sĩ và đồng bào. Không thể để đổ máu thêm nữa. Tôi quyết định buông súng”

Chiều 30/4, Nguyễn Khoa Nam mặc quân phục nghiêm chỉnh, vào quân y viện thăm binh lính Sài Gòn bị thương nặng, phải nằm một chỗ không di chuyển được. Ông ta đến từng đầu giường nắm tay những người lính và chảy nước mắt.

Khi quay về, viên tỉnh trưởng gọi điện xin lệnh nổ mìn đã đặt sẵn để phá cầu, chặn bước tiến của xe tăng Quân Giải phóng. Nguyễn Khoa Nam lập tức ra lệnh: “Để cầu lại. Không được phá.”

Chiều tối hôm đó có hai cán bộ Quân giải phóng đến trụ sở Bộ tư Quân đoàn 4, gặp Nam yêu cầu Quân đoàn 4 buông sung. Ngay sau đó, Nguyễn Khoa Nam đã lệnh truyền đạt cho chỉ huy tất cả các đơn vị trực thuộc Quân đoàn 4 yêu cầu buông súng, giương cờ trắng, chủ động gặp Quân giải phóng bàn giao căn cứ, súng đạn, tránh tuyệt đối đụng độ, đảm bảo an ninh tối đa cho dân chúng.

Đêm hôm đó, máy bay trực thăng riêng túc trực ở sân Bộ tư lệnh. Nguyễn Khoa Nam có thể lên trực thăng bay ra tầu chiến của Mỹ đang đậu ngoài khơi, di tản đi nước ngoài. Nhưng Nguyễn Khoa Nam đã chọn quyết định ở lại, và đêm đó sau những giằng xé, giông bão về nội tâm, Nguyễn Khoa Nam đã rút súng ngắn bắn vào đầu tự sát…

Còn có những câu chuyện hay uẩn khúc nào mà ông chưa thể đưa vào cuốn sách?

Cuộc chiến đã kết thúc hơn 4 thập kỷ. Quan hệ Mỹ – Việt cũng đã được bình thường hoá. Không còn rào cản nào về việc phục dựng trung thực sự thật lịch sử. Không còn chuyện dám đưa hay không. Mà chỉ là đưa như thế nào? Lần đầu tiên xuất bản, tôi không in các tài liệu nguyên bản ở phần phụ lục.

Đến lần tái bản thứ nhất tôi in toàn văn 21 tài liệu nguyên bản được xem là tuyệt mật ở thời điểm đó. Còn để sử dụng được hết nguồn tư liệu đồ sộ, cuốn sách phải lên đến nghìn trang. Nếu có thể, tôi mong sẽ đưa được những tư liệu còn lại tới độc giả khi tiếp tục tái bản có bổ sung cuốn sách này vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thống nhất đất nước.

(30/4/1975 – 30/4/2025)

Hoàng Hường thực hiện

Nguồn: vietnamnet 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: