• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Không né tránh sự thật những khoảng khuất lịch sử

TTO – LTS: Bài viết “Xác lập quan điểm mới cho những khoảng trống lịch sử” đã thu hút đông đảo sự quan tâm và phản hồi của bạn đọc. Ý kiến của những người nghiên cứu sử học ra sao?

Không né tránh sự thật những khoảng khuất lịch sử

Toàn cảnh hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN” tại Thanh Hóa sáng 18-10-2008. Không chỉ có các nhà khoa học mà còn có các nhà chính trị: nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu, phó trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư Vũ Ngọc Hoàng… Và không chỉ là những hậu duệ của các chúa Nguyễn ở cố đô Phú Xuân hay đất phát tích Thanh Hóa, mà còn là hậu duệ của dòng họ Nguyễn ở khắp VN, ở nước ngoài cũng về quê tham dự ngày trọng đại này – Ảnh: Việt Dũng

.

Và những nhà nghiên cứu sử học cũng hết sức quan tâm đến nội dung bài viết này. TTO xin được giới thiệu:

* Nhà sử học 
DƯƠNG TRUNG QUỐC:

Nhìn thẳng để hòa giải với quá khứ

Tôi cho rằng thời điểm này rất phù hợp để nói ra những khoảng trống lịch sử trước đây, vì chúng ta đang chuẩn bị bước vào công cuộc đổi mới lần thứ hai, nên phải tôn trọng, không né tránh những khoảng khuất lịch sử.

Nếu không mạnh dạn nhìn vào đó để phân tích một cách khoa học, càng để lâu càng tạo ra sự lãng quên mà sự lãng quên ấy sẽ dẫn đến nhận thức sai lệch. Trong mọi thực thể hoặc mọi chính thể đều có cái đúng, cái sai nhưng quan trọng là ý thức muốn vươn lên.

Tôi rất hi vọng lần này là cơ hội để giới sử học có thể đề cập nhiều vấn đề sử học mà không có “vùng cấm” nữa, đồng thời đưa ra những quan điểm khác nhau. Tất nhiên việc này đặt trên nền tảng là trách nhiệm với dân tộc.

Tôi luôn quan niệm lịch sử là phải nói sự thật, nhưng đôi khi có sự thật chưa thể nói ra được thì quyết không nói sai sự thật. Có những vấn đề chưa chín muồi, chưa đầy đủ nhận thức khoa học, có thể gác lại chưa nói, nhưng đã nói ra thì không được nói sai.

Chẳng hạn từ 10 năm trước, tạp chí Xưa và Nay đã nêu vấn đề là tại sao trong một bài viết của Nguyễn Ái Quốc gần một thế kỷ trước có đánh giá cao vua Gia Long. Dù đánh giá về vua Gia Long có thể cần phải phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhưng về khoa học phải trung thực, nhất quán.

Không né tránh sự thật những khoảng khuất lịch sử
Vua Gia Long – Ảnh tu liệu
Không né tránh sự thật những khoảng khuất lịch sử
Nhà vua yêu nước Duy Tân khi lên ngôi năm 7 tuổi (1907) – Ảnh tư liệu

Nếu chúng ta dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật sẽ có những bài học tích cực, có tác dụng cả về khoa học và nhận thức xã hội hơn là che giấu, né tránh và nói sai sự thật lịch sử.

Hơn nữa những đánh giá của người làm sử hay người làm chính trị mỗi thời rồi sẽ được xã hội điều chỉnh theo hướng ngày càng tiếp cận với chân lý hơn.

Như câu chuyện cải cách ruộng đất, bao nhiêu người bị oan khuất nhưng chúng ta chỉ nói là Đảng nhìn nhận sai lầm. Tuy nhiên sai như thế nào, mức độ sai ra sao, trách nhiệm đến đâu, lý do vì sao sai… để chúng ta không lặp lại những bài học cay đắng như thế nữa thì chưa thấy nói. Phải dám nhìn vào sự thật chứ không phải chỉ nhắc lại một hai câu trong nghị quyết là xong.

Tất nhiên, không phải khơi lại những chuyện đó để tạo ra những nỗi bức xúc, nhưng nhìn thẳng vào sự thật lịch sử là cách hòa giải với quá khứ. Các cụ từng nói “dĩ bất biến ứng vạn biến” thì sự thật lịch sử chính là cái bất biến.

* PGS.TS BỬU NAM 
(giảng viên khoa ngữ văn 
Trường đại học Sư phạm Huế):

Phải đánh giá lại 
một cách công bằng 
đối với triều Nguyễn

Nhân việc GS Phan Huy Lê đề nghị “xác lập quan điểm mới” trong việc viết lịch sử Việt Nam, tôi xin có mấy ý kiến đề xuất như sau:

Đánh giá lại một cách khách quan và công bằng vai trò của triều Nguyễn và vua Gia Long, sự cống hiến của họ cho lịch sử dân tộc; viết lại lịch sử các dân tộc khác đã và đang cùng sinh sống trên lãnh thổ nước Việt Nam hiện nay một cách khách quan, công bằng.

Tương tự, lịch sử miền Trung phải trải qua vương triều Chămpa; lịch sử miền Nam phải trải qua các vương triều Phù Nam, Chân Lạp; lịch sử Tây nguyên vốn là không gian sinh tồn của các dân tộc Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, M’Nông, K’Ho… trước khi người Pháp đến khai phá và người Kinh di cư đến.

Viết lại lịch sử chế độ Pháp thuộc và những đóng góp của họ trong việc hình thành xã hội Việt Nam hiện đại. Rồi nước Việt Nam giai đoạn 1954-1975 ngoài chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa ở miền Bắc, còn có Việt Nam cộng hòa ở miền Nam với những diễn biến rất quan trọng mà sách sử quốc gia không thể không ghi.

Bộ quốc sử nước Việt phải được viết với một nguyên tắc của khoa học lịch sử, đó là: khách quan, trung thực, công bằng; có so sánh với lịch sử các quốc gia khác, đặc biệt là các nước Đông Nam Á. Đồng thời, cần vận dụng các phương pháp tiếp cận mới của khoa học lịch sử thế giới hiện nay.

V.V.TUÂN – M.TỰ ghi
————–

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn

23/02/2017 09:22 GMT+

TTO – Sáng 22-2 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử VN” do GS.NGND Phan Huy Lê – chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử VN – trình bày.

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn

GS.NGND Phan Huy Lê – Ảnh: V.V.TUÂN
.
“Tất cả các nền văn hóa từng tồn tại trên lãnh thổ VN đều là di sản của văn hóa VN, đều là bộ phận tạo thành của văn hóa VN” – GS Phan Huy Lê
GS Phan Huy Lê đã nêu những thành tựu nổi bật mới trong nghiên cứu suốt chiều dài lịch sử VN. Theo đó, bên cạnh văn hóa Đông Sơn thì việc nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Óc Eo đã đạt được nhiều thành tựu. Ba nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo tồn tại ở ba miền Bắc, Trung, Nam đều phát triển rực rỡ và bổ sung cho nhau.
.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, đã có thêm những cơ sở để khẳng định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan kéo dài gần tròn 10 năm (713-722) chứ không phải chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, bùng nổ và thất bại trong năm 722. Điều đặc biệt, cuộc khởi nghĩa không chỉ quy tụ nhân dân trong nước mà còn liên kết với nhiều quốc gia xung quanh như Chân Lạp, Chăm Pa…
.

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn

GS Lê nhấn mạnh: “Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757 chúa Nguyễn đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ – không gian sinh tồn của nước VN. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.

Tuy nhiên, GS Lê cũng nhắc lại hai tội lớn của nhà Nguyễn là để mất nước vào tay quân Pháp và quá bảo thủ, từ chối tất cả các đề nghị canh tân đất nước của nhiều nhà trí thức tiến bộ.

“Nhìn nhận về lịch sử phải hết sức khách quan và cái gì khách quan của lịch sử mới tồn tại lâu dài được. Còn cái gì mà trong một tình thế thời sự nào đó ta phải tôn vinh hoặc hạ thấp thì nó chỉ tồn tại trong một điều kiện nhất định nào đó. Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mạng cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan, trung thực”.

Những khoảng trống lịch sử

Phần thứ hai của bài thuyết trình, GS Phan Huy Lê thẳng thắn chỉ ra nhiều khoảng trống lịch sử nguy hiểm trong tư duy, nhận thức về lịch sử VN hiện nay.

Ông cho rằng nhận thức về lịch sử VN hiện nay vẫn xuất phát từ truyền thống thời quân chủ, đó chủ yếu là lịch sử của các vương triều, của nhà vua, các triều thần, còn lịch sử nhân dân rất mờ nhạt. Lịch sử của các dân tộc thiểu số không được nhắc đến. Sử học hiện đại VN trong một thời gian dài cũng chỉ trình bày nặng về lịch sử người Việt.

“Vì vậy, trên cả nước thì chỉ có lịch sử miền Bắc là được trình bày có ngọn nguồn từ thời nguyên thủy đến thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Bắc thuộc đến thời phong kiến, cận đại, hiện đại. Còn lịch sử của Nam Trung bộ chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ 16, lịch sử Nam bộ chỉ bắt đầu từ thế kỷ 17.

Trước đó lịch sử ở hai vùng đất này ra sao thì chúng ta bỏ trống. Đó là một khoảng trống lịch sử cực kỳ nguy hiểm. Vì từ khoảng trống này đã làm nảy sinh nhiều nhận thức tùy tiện, bất lợi cho chủ quyền lãnh thổ VN hiện nay.

Tôi nhớ mãi là sau năm 1975 khi chúng tôi vào miền Nam, nhiều trí thức trong đó đã nói rằng họ rất băn khoăn khi nhân dân hỏi thì không biết trả lời thế nào về lịch sử Nam bộ trước khi người Việt vào khai phá. Nếu lấy từ thế kỷ 17 người Việt vào khai phá Nam bộ thì người ta sẽ đặt câu hỏi ngược lại vậy lịch sử của Nam bộ, của Sài Gòn trước đó thế nào? Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Rõ ràng đây là nhận thức phiến diện tạo thành một khoảng trống lịch sử.

Vì sao nước ta có 54 dân tộc mà chỉ có tôn vinh lịch sử của người Việt, gạt bỏ các dân tộc khác ra ngoài?” – ông Lê trăn trở.

Xác lập quan điểm lịch sử mới

Lời giải mà GS Phan Huy Lê đưa ra để san lấp các khoảng trống lịch sử đó là cần phải xác lập một quan điểm, nhận thức mới về lịch sử VN. “Một quan điểm tuy không được đưa vào các văn kiện của Liên Hiệp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử.

Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng.

Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”.

GS Lê lấy ví dụ Trung Quốc trước đây cũng viết lịch sử đất nước chủ yếu là của người Hán, nhưng bước sang đầu thế kỷ 21 thì quan điểm đó đã thay đổi, bây giờ họ trình bày lịch sử của Trung Hoa bao gồm nhiều tộc người như người Hán, người Mãn Thanh, người Mông và cả các vương triều phi Hán như nhà Nguyên, nhà Thanh…

Nếu xác lập quan điểm lịch sử mới này, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vấn đề Nam bộ.

“Lãnh thổ VN hiện nay đã được nhiều tổ chức quốc tế công nhận – tức là một lãnh thổ hợp pháp, nên tất cả những gì diễn ra trên lãnh thổ này, kể cả đất liền, hải đảo và hải phận đều là một bộ phận của lịch sử và văn hóa VN.

Như vậy, lịch sử VN không chỉ là lịch sử của một bộ phận người Việt mà là lịch sử của tất cả các dân tộc nằm trong đại gia đình các dân tộc VN, trong đó bao gồm cả các dân tộc trước đây đã từng có nhà nước riêng như người Chăm, người Khmer… Tất cả các nền văn hóa từng tồn tại trên lãnh thổ VN đều là di sản của văn hóa VN, đều là bộ phận tạo thành của văn hóa VN” – GS Lê nêu quan điểm mới về nhận thức lịch sử VN.

Cũng từ nguyên tắc này, với cuộc kháng chiến chống Pháp thì cần nghiên cứu trình bày cả vùng chiếm đóng của Pháp, trong đó bao gồm cả Hà Nội thời kỳ Pháp chiếm đóng, cả quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại.

Tương tự, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) cũng cần nghiên cứu sâu hơn về những vùng tạm chiếm ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, và cả lịch sử của VN cộng hòa. GS nói rõ hơn: “Trước đây ta vạch ra ranh giới của địch và ta và chỉ trình bày phía ta đã làm mất đi căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền với lãnh thổ VN. Quan điểm lịch sử mới này vừa là thực tế lịch sử vừa là bộ phận có tính chất khách quan trung thực và là căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền VN trên bộ, đặc biệt là 
trên biển, hải đảo”.

GS.TS sử học Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng việc trình bày lịch sử ở từng khu vực trong lãnh thổ VN không nhất thiết cứ phải dựa trên mối quan hệ là sự đoàn kết mà có khi sự mâu thuẫn, đối lập, chiến tranh… trong từng giai đoạn lịch sử cũng là những mối quan hệ cần trình bày khách quan.

“Nói về VN mà lại không có các vương triều phía Nam thì không đảm bảo tính toàn vẹn. Không thể nói vấn đề các vương quốc phía Nam là vấn đề “nhạy cảm”, không nên nói. Vua Gia Long với sự cố gắng hết sức của mình đã đem lại sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chúng ta như hôm nay thì sao không đưa ông ấy vào lịch sử?” – GS Ngọc đặt câu hỏi.

PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học, còn trăn trở thêm là chúng ta chưa được đọc các công trình viết một cách kỹ lưỡng về nhiều vấn đề thời hiện đại như cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, hợp tác hóa nông nghiệp…

“Chúng tôi viết khách quan trung thực về những sự kiện lịch sử đã xảy ra nhưng xuyên suốt vẫn vì lợi ích của dân tộc, đất nước” – PGS.TS Trần Đức Cường khẳng định.

Nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học bảo vệ đất nước

Ông Võ Văn Thưởng – ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên giáo trung ương – chia sẻ những vấn đề mà các nhà sử học băn khoăn, trăn trở cũng là những vấn đề mà những người làm công tác tuyên giáo đang phải đối mặt và tìm cách giải quyết. Dù lịch sử có liên quan rất lớn với chính trị, nhưng các cơ quan lãnh đạo luôn nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng, bảo vệ đất nước.

VŨ VIẾT TUÂN

Theo tuoitre  
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: