• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

Khi có ngọn lửa hồng trong bếp

Image result for ngọn lửa trong bếp

Tản văn của Nguyễn Hiếu

Không phải ngẫu nhiên nhân loại đánh giá rất cao sự phát minh ra lửa. Thần thoại Hi La thần thánh hóa ngọn lửa- mà cũng đúng ngọn lửa là thần thánh thật vởi sự ấm cúng và nồng nàn của nó đối với sự sống và niềm hạnh phúc con người – kể rằng- Thần Prômê tê bị Zớt, chúa tể của thế giới các vị thần xích trên đỉnh núi, ngày ngày cho chim ưng đến khoét tim chỉ vì mang lửa cho giống người vì thương con người lạnh lẽo. Nhờ có lửa loài người mới thoát khỏi sự hoang dã. Mới khác biệt với loài vật, trở thành động vật cao cấp có trí tuệ để cải tạo và thống trị trái đất. Ngọn lửa càng vĩ đại hơn khi nó được con người bứng về làm nên thứ năng lượng bất tử để nuôi dưỡng cái bếp nho nhỏ trở thành cội nguồn của sự bền chặt, hạnh phúc trong mỗi gia đình.

Cũng không phải ngẫu nhiên trong các chuyện cố tích hay chứa đựng chất huyền thoại và vui vẻ nhất của các dân tộc trên thế giới đều nói về cái bếp và các con người tiêu biểu cho dân tộc ấy. Anh chàng I Van lười nhác ngày ngày nằm bên bếp chờ mẹ cho ăn để rồi có ngày trở thành chàng dũng sĩ chiến thắng mọi kẻ ác. Mụ phù thủy miền Bắc Âu đêm đêm cưỡi chổi vọt khỏi nhà bằng ống khói nhà bếp. Với người Pháp, người Đức…thì sự vui vẻ nhất bên cây Nô en đêm giáng sinh cũng không thể thiếu sự lung linh của lò sưởi. Còn Việt nam ta chẳng ít chuyện cổ tích gắn liền với bếp. Nhưng có lẽ thân thương, nghĩa tình, gần gũi nhất là chuyện kể về vợ chồng Táo quân. Thân thương khi ba đầu rau quanh năm đội nồi, đội chảo, chấp nhận xấu xí, chịu đựng độ nóng của lửa để nuôi sống mỗi gia đình được cổ tích hóa thành sự hòa thuận của một gia đình. Vì một trường hợp trớ trêu nghĩa tình nên một bà vợ có hai ông chồng mà vẫn hòa thuận, êm ấm. Thân quen vì ba vị Táo- đầu rau đó quanh năm không xa rời cái bếp của mồi gia đình giây phút nào dù gia đình đó nghèo, giầu ra sao, chỉ đến ngày 23 tháng chạp mới về trời trình tấu sự thể, diễn biến làm ăn sau một năm của gia đình ấy.

Còn trong ngôn từ Việt nam thì cái bếp trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất để ghi nhận sự êm ấm của gia đình, đức hạnh của người vợ, người mẹ. “Vắng  đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp”.

Suy tư về cái bếp của xứ ta từ vài nghìn năm là vậy, còn với tôi khi  đã quá hai phần ba cuộc đời sống trên mặt đất. Nhờ trời, thân xác này từng  hiện diện ở khá nhiều nơi trên trần gian mênh mông, mắt đã nhìn thấy nhiều loại bếp từ hoang sơ bên nẻo rừng trên công trường xây dưng đường biên giới nơi đỉnh Luông Pren cao nhất nhì rặng Trường Sơn cho đến hiện đại ở giữa Stốc hôm Thụy Điển. Mồm đã nếm không ít món ăn được nấu từ nhiều loại nồi nhưng mỗi khi nhắc đến bếp tôi vẫn thấy hiển hiện hình mẹ tôi. Mùa hè mồ hôi mướt mải, nheo nheo mắt tránh khói, tay đẩy rơm, tay cầm cây que nhỏ gẩy san rơm, làm sao cho lửa đủ, phù hợp cho cơm rẻo, canh ngọt, nồi kho không mặn. Còn mùa đông, trước khi mẹ tôi nhóm được ngọn lửa thì bếp mới lạnh lẽo, nguội tàn làm sao. Thiên hạ thực có lý khi lấy hình ảnh sự vắng lạnh của bếp để nói về sự tan vỡ của những gia đình là vậy. Sau khi bếp đã cháy đượm, ngọn lửa bập bùng, chói lòa đã đuổi xua cái lạnh cùa gió bấc thối từ sông Cái hun hút thổi vào. Chị em tôi ngồi quanh bếp lửa lùi khoai, nướng ngô, rúc rich cười đùa trong mùi thơm của ngô, khoai chín. Khoảng không gian rạo rực, nống ấm của căn bếp nhà tôi ngày thơ ấu đó càng bừng lên vào những đêm cuối năm.

Năm nào cũng vậy. Tùy theo ngày đụng thịt lợn với cô bác, họ hàng, làng xóm, mà nhà tôi luộc bánh chưng vào tối 27, 28 hay 29 tết. Giờ đêm luộc bánh đã lùi xa hàng hơn nửa thế kỉ mà tôi vẫn nhớ như in. Ngay từ chiều, bố tôi đã rải ổ rơm đủ chỗ cho cả nhà tôi bốn người có thể ngủ dưới bếp để canh nồi banh chưng. Khi tôi vào học lớp 1 cũng là năm đầu tiên tôi được cùng bố mẹ và chị tôi ngủ dưới bếp nấu bánh. Tôi ngạc nhiên hỏi mẹ sao bánh chưng phải nấu lâu thế. Từ xẩm tối hôm trước đến rạng sáng hôm sau. Mẹ tôi bảo “có nấu lâu thế gạo đỗ, thịt mới quện vào nhau, cái bánh  mới rền, mới ngon”. Tối đó chị em tôi thức khuya hơn mọi lần, đánh tam cúc chán lại tranh nhau đấy củi, lùi thóc, nướng khoai. Ngay cả lúc vì buồn ngủ quá, thiếp đi giữa ổ rơm ấm cúng, được mẹ kéo chiếc chăn dạ lên đắp cho hai chị em, tôi vẫn chập chờn thấy bóng bố tôi vươn cao trên nồi bánh chưng nhấc chiếc mâm đồng, bê nồi nước chặn trên mâm đậy nồi bánh lên. Có tiếng cạch nhẹ, làn khói nghi ngút từ nồi bánh tỏa ra trùm lấy hình bố tôi khom lưng đổ thêm nước vào nồi bánh đang sôi sùng sục. Tiếng bố tôi khe khẽ hỏi mẹ tôi

              –  Năm nay bánh nhà mình gói nhiều hơn năm ngoái mấy rộp, mẹ nó nhỉ  ?

Trong phút chập chờn giở thức giở ngủ đó, tôi thấy gian bếp nhà tôi như rộng hơn mênh mông hơn. Nhưng dù nó hiện ra trong giấc mơ thời ấu thơ, hay trong nỗi nhớ khi tôi xa quê, xa tổ quốc, và ngay cả lúc này…Khi gian bếp thân quen, gắn liền với những tháng năm đầu đời tôi nay đã bị phá đi, để cải tạo lại cho phù hợp với cuộc sống hôm nay thì căn bếp đầm ấm vẫn vẫn nguyên vẹn hình hài trong tôi.

Gian bếp nhà tôi không rộng lắm. Nhưng nó vẫn được bài trí và có đủ mọi thứ của một gia đình hạng trung ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cối giã gạo đứng nép theo tường bếp. Giữa bếp chồ rộng nhất dành cho cối say thóc. Câu đố chị tôi đố về nó có lé ám ảnh tôi trọn đời ”sừng sững mà đứng giữa nhà.Ai mà mó đến thì òa khóc lên”. Kề liền xối xay là cái chạn tre cậu tôi làm bằng hai cây tre chặt từ lũy tre mọc bên riềm ao nhà ông ngoại tôi. Bức tường đằng sau chạn là nơi treo rổ rá, cùng những giá để treo dao, liềm. Chân tường là cối giã cua, vại cà, vại dưa, liễn muối, âu mẻ, vài chai tương mẹ tôi múc sẵn từ chum tương đặt dưới gốc cau, kề bên giàn giàu không. Mẹ tôi bảo chum tương thì nên để ở ngoài phơi nắng vừa ngấu tương vừa đỡ bị hua. Cốt sao đậy kín để tránh nước mưa lọt vào. Hồi vợ chồng tôi dọn vào khu tập thể nhà trường để tiện vợ tôi dậy học và trông con nhỏ. Mẹ tôi gây cho vợ chồng tôi liễn mẻ bằng cách san một ít mẻ cái từ liễn mẻ ở nhà. Bà nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải mang liễn mẻ vào. Bà bào trong nhà muốn gì cũng phải có liễn mẻ. Mà nhớ cho mẻ ăn. “Đến mẻ không ăn cũng chết”. Có liễn mẻ trong nhà thì nhà cửa yên ấm, vợ chồng hòa thuận. Chả biết có phải thế không, chỉ biết đến nay mẹ tôi đã đi xa gần chục năm trời, liễn mẻ mẹ tôi gây cho vợ chồng tôi chỉ vơi đi khi có hàng phố xin.

Chỗ quan trọng nhất trong gian bếp nhà tôi và chắc cũng là của mọi gia đình là dẫy bếp. Hồi đầu khi tôi còn bé, bếp nhà tôi có ba bếp, mỗi cái đều là ba ông đầu rau chụm lại. Cậu tôi lặn xuống tận đáy ao Sen- cái ao to nhất làng và có lẽ nhất phủ Hoài Đức một thời – lấy đất sét về nhào nặn mà thành. Cậu tôi bảo đất sét ao Sen mịn và lành lắm. Sau này mẹ tôi xuống chợ mua hai cái kiềng thay cho hai bếp đầu rau nhỏ. Còn cái bếp có ba ông đầu rau lớn mẹ tôi bảo cứ để nguyên đấy cho ấm bếp và cũng để mẹ tôi đỡ nhớ cậu- người em ruột chẳng may mất sớm, người từng cùng mẹ tôi nuôi dậy tôi hồi bố tôi còn trên chiến khu-

Bây giờ sống giữa chốn thị thành và ngay cả khi xây lại căn nhà trên quê. Bếp nhà tôi không còn như cái bếp ngày xưa chị em tôi chổng mông dóm bếp, thổi lửa, nướng khoai.

Những đêm cuối năm gió bấc từ sông Cái vẫn thổi vào.

Trong đêm trừ tịch, nhà nhà quây quần bên nồi bánh chưng. Người lớn bàn chuyện làm ăn. Đám trẻ hong hóng chờ chiếc bánh chưng con chin tới…đã không còn…

Vậy mà với tôi, ngọn lửa bếp vàng xuộm bừng cháy giữa ba ông đầu rau dưới đáy nồi cơm của mẹ vẫn thao thức, nồng ấm, rạo rực trong lòng tôi khôn nguôi.

NH
Ngày 6/12/2015

Nguồn: Văn đàn BNN

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: