• Schubert’s Greatest Hits

  • Lần cuối cùng bạn làm việc tốt là bao giờ?

PHAN BỘI CHÂU VỚI BÀI THƠ “HOA KHAI BẤT CẬP XUÂN”

Theo quy chế thi cử dưới triều nhà Nguyễn, để giảm thiểu số thí sinh trong các kỳ thi, các thí sinh trước khi muốn thi Hương, đều phải qua một kỳ thi khảo ở các xứ. Năm Quý Mùi, niên hiệu Tự Đức thứ 36 (1883), Phan Bội Châu tham dự kỳ thi khảo ở phủ Anh Sơn. Bài của Phan được xếp loại ưu. Đến khi đã bắt đầu làm bài, Phan mới có mặt. Tri phủ Anh Sơn lúc đó là Hoàng Giáp Phạm Như xương liền ra một đề khác bắt Phan làm, chứ không cho Phan làm chung đề. Vốn là một ông quan hay chữ, nhân năm đó tiết muộn, ra tiết hoa đào mới nở, ông Hoàng giáp họ Phạm đã nghĩ được một cái đề khá “hóm” là: “Hoa khai bất cập xuân” (Hoa nở không kịp mùa xuân), cũng là để nói về việc Phan để thi trễ giờ và bắt Phan làm một bài thơ. Chẳng cần phải suy nghĩ nhiều, Phan đặt bút viết ngay:

Hoa khai bất cập xuân

Đông hoàng tằng trước nhãn

Dĩ hứa bách hoa khôi

Chỉ vị khiêm khiêm ý

Phiên giao tiệm tiệm khai…

Vừa viết đến đây, đang định viết tiếp thì ông Hoàng giáp Phạm Như Xương đã bào: “Chỉ chừng ấy, anh cũng đã đỗ đầu xứ rồi, không phải viết nữa”.

Bốn câu của Phan dịch nghĩa.

Hoa nở không kịp mùa xuân.

Nhờ có chúa xuân lưu tới

Cho xếp hàng đầu các thứ hoa

Nhưng vì có ý khiêm tốn

Nên chỉ nở dần dần…

.

Chương Thâu dịch thơ:

Hoa nở không kịp mùa xuân

Nhờ chúa xuân lưu ý

Cho hàng đầu trăm hoa

Chỉ vò lòng khiêm tốn

Nên để nở dần dà…

Nếu có chuyện “thơ vận vào người”, thì sự bất đắc chí trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan quả đúng như chuyện “Hoa khai bất cập xuân”! Sinh ngày 16-12-1867 (Âm lịch là 1/12/Đinh Mão) tại thôn Sa Nam, xã Đông Liệt (quê mẹ), Phan Bội Châu tên cũ là Phan Văn San, hiệu Hải Thu, biệt hiệu Sào Nam, người làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễm, nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân sinh Phan Bội Châu, cụ Phan Văn Phổ là một nhà nho nghèo, làm nghề dạy học, nên mới 6 tuổi, Phan đã được theo cha đi “ngồi nơi” (nơi cha ngồi dậy học) để học chữ thánh hiền. Vốn thông minh, chỉ nghe mẹ truyền miệng cũng thuộc lòng mấy chương Chu Nam trong Kinh Thi, Phan học 3 ngày hết pho “Tam Tự Kinh”. Lên 7 tuổi đã phỏng theo “Luận ngữ” – một trong tứ thư viết: “Phan tiên sinh chi Luận Ngữ” (Luận ngữ của ông Phan). Lên 8 tuổi, thường đứng đầu các kỳ khảo hạch ở phủ huyện. Năm 13 tuổi, theo học cụ cử Nguyễn Kiều, đã thông thạo các thể văn thơ chữ Hán làm theo lối mới. Năm 16 tuổi được lấy đỗ đầu sứ nhờ bài phú: “Hồ thượng khoá lư” (cưỡi lừa trên hồ). Danh hiệu “Đầu xứ San” là bắt đầu từ đó. Năm 17 tuổi (năm viết bài thơ “Hoa khai bất cập xuân”), nhân sự kiện toàn cõi Bắc kỳ bị mất về tay quân Pháp, thoả tờ hịch “Bình Tây thu Bắc” (dẹp giặc Tây lấy lại Bắc Kỳ). Năm 18 tuổi (1884), mẹ mất, phải đi dạy học để nuôi mình, nuôi cha. Năm ất dậu 1885, kinh thành Huế thất thủ, Phan (lúc này mới 19 tuổi) đã thành lập một đội thí sinh quân được hơn 60 người để hưởng ứng phong trào Cần vương của vua Hàm Nghi. Năm 20 tuổi viết cuốn “Song tuất lục” nói về cuộc khởi nghĩa năm Giáp Thân 1874 và phong trào Cần Vương năm Bính Tuất 1886 ở Nghệ Tĩnh của Bang Mai, Bang Tấn. Năm 31 tuổi 1897 nổi tiếng là hay chữ nhất nước với bài phú “Bái thạch vi huynh” (tôn đá làm anh). Cũng thời gian này, Phan vào kinh dạy học, có điều kiện tìm đọc thêm “tân thư, tân văn” và mở rộng các mối quan hệ để tìm người đồng tâm, đồng chí. Thông minh như thế, sức học và tài trí như thế mà phải đến khoa Canh Tý, niên hiệu Thành Thái thứ 2 (1900) sau 6 lần lều chõng (18 năm), khi đã 34 tuổi, Phan mới đỗ đầu thi Hương. Nhưng mong theo đuổi con đường khoa cử, kiếm chút công danh hầu cố kết lòng người để mưu đại sự, nên sau khi đỗ Phan đã “tức sự” một đôi câu đối để mừng mình:

Bất như ý thường bát cửu sự, sầu sinh liêm ngoại Tây phong

Hỗn thiết suy ư tam bách nhân, quý tử môn tiên nam Quách.

Đại ý: Ngẫm việc đời mười điều, thì có đến tám chín điều không vừa ý. Buồn vì ngọn gió Tây (ám chỉ sự xâm lược của thực dân Pháp) trước rèm thổi tới.

Cầu chút công danh giữa ba trăm người, e chàng Nam Quách cũng phải chết thẹn trước cửa (ý khiêm tốn, ví mình với chàng Nam Quách khi đồng tấu sao cùng với ba trăm người thì còn có thể mấp máy môi, nhưng nếu phải độc tấu thì không biết thổi! ý nói mình đậu không xứng).

Thời gian sau đó, Phan bắt đầu lao vào con đường hoạt động cách mạng. Năm 1904 thành lập “Duy tân hội” chủ trương ngành độc lập bằng con đường vũ trang, bạo động, năm 1905, sang Nhật cầu viện, khởi xướng phong trào Đông Du, từ năm 1905 – 1908 tổ chức cho gần 200 thanh niên có tinh thần yêu nước xuất dương sang Nhật để huấn luyện và học tập. Năm 1909, hiệp ước giữa hai nước Nhật – Pháp được ký kết, phong trào Đông du bị phá sản, Phan bị chính phủ Nhật trục xuất, phải sang ẩn náu ở Trung Quốc rồi qua Xiêm (Thái Lan) để gây cơ sở. Sau cách mạng Tân Hợi 1911, Phan trở lại Trung Quốc giải tán “Duy tân hội”, thành lập “Việt Nam quang phục hội”, tổ chức đưa người về nước nhằm vũ trang, bạo động để gây uy tín. Năm 1913, bị chính quyền quân phiệt Quảng đông bắt giam. Năm 1917 ra tù. Năm 1924, do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười và những biến động của phong trào cách mạng dân chủ ở Trung Quốc, Phan quyết định cải tổ “Việt Nam quang phục Quốc Dân Đảng”. Cuối năm đó, Phan đã gặp Nguyễn Ái Quốc (với bí danh Lý Thuỵ) lúc này đang hoạt động ở Quảng Châu. Ngày 30-6-1925 (tức ngày 14-5 Âm lịch), Phan bị mật thám Pháp bắt cóc ở nhà ga Thượng Hải, trên đường từ Hàng Châu tới Quảng Đông (Trung Quốc) để dự lễ mưu sát Toàn quyền Đông Dương Mec-Lanh (Merlin) tại Sa Diện. Thực dân Pháp đã đưa Phan về nước và đem ra xử ở toà đề hình Hà Nội với mức án khổ sai chung thân, nhưng một phong trào bãi công, bãi khoá, bãi thị đòi trả tự do cho Phan đã bùng nổ trong cả nước, buộc chính quyền thực dân phải đưa ông về an trí ở Huế. Sự kiện này đã đánh dấu kết thúc cuộc đời hoạt động Cách mạng 15 năm bị an trí ở Huế, Phan chủ yếu dành cho công việc trước tác. Trong cuốn “Phan Bội Châu niên biểu” – tác phẩm cuối cùng được viết vào năm 1937. Phan tự đánh giá khi nhìn lại quãng đời hoạt động Cách mạng của mình: “Lịch sử tôi, quả tình chỉ là lịch sử của một cuộc thất bại, thất bại từ đầu chí cuối…”

Ông mất ở Huế ngày 29-10-1940, 5 năm trước khi kịp đón mùa xuân Độc lập đầu tiên, sau hơn 80 năm nô lệ được đánh dấu bằng văn bản tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 02-9-1945 ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà…

Nguồn: VHPĐ

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: